vanban.org

Bản án 16/2018/HNST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim N đối với ông Lương Vĩnh T. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Kim N được ly hôn với ông Lương Vĩnh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Kim N và Lương Vĩnh T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2018/HNST
Ngày: 16/3/2018
Về việc: “Xin"ly"hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU

Với"thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:

- Thẩm"phán"–"Chủ"toạ"phiên"toà: Bà Võ Bích Hải

- Các"Hội"thẩm"nhân"dân: 1. Ông Phạm Văn Vĩ

2. Ông Nguyễn Văn Minh.

- Thư"ký"toà"án"ghi"biên"bản"phiên"toà: Ông Huỳnh Quốc Sang

Trong ngày 16 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân thụ lý số 840/2017/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2017 về việc“ Xin"ly"hôn”.

Theo Quyết định đưavụ án ra xét xử số: 123/2018/QĐST-HN ngày 26 tháng 02 năm 2018, giữa:

Nguyên"đơn: Bà Nguyễn Kim N, sinh năm 1961.

Trú tại: 687 đường 30/4, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Bị"đơn: Ông Lương Vĩnh T, sinh năm 1962.

Trú tại: 687 đường 30/4, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN NHƯ SAU:

Bà"Nguyễn"Kim"N"trình"bày: Bà và ông Lương Vĩnh T tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ vào ngày 16/02/1993. Trong thời gian chung sống giữa hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Sau nhiều lần tìm các biện pháp để hàn gắn duy trì hôn nhân nhưng không đạt được như mong muốn, mâu thuẫn càng trầm trọng hơn. Hai bên sống ly thân với nhau hơn 05 năm trước khi bà N có đơn xin ly hôn.

Nay bà N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 02 con chung tên Lương Vĩnh Phúc, sinh ngày 23/6/1994; Lương Vĩnh Đức, sinh ngày 01/6/1997, các con đều đã trưởng thành nên không yêu cầu xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không có.

Bị đơn ông Lương Vĩnh T được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt nên vụ án thuộc trường hợp hòa giải không được. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa hôm nay, bà N cho rằng ông T thường gây ra nợ nần để bà N phải trả nợ thay ông; sự việc đã kéo dài trên 10 năm nhưng ông T không thay đổi. Bà N không còn tình cảm với ông T nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

Về"quan"hệ"hôn"nhân: Bà Nguyễn Kim N và ông Lương Vĩnh T tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay bà N có yêu cầu xin ly hôn với ông T, vụ việc này do Luật hôn nhân gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về"thủ"tục"tố"tụng: Ông Lương Vĩnh T được triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông T.

Xét"trong"thời"gian"chung"sống"với"nhau: Bà N và ông T phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông T nhiều lần gây ra nợ nần, bà N phải ghánh vác trả nợ cho ông T nên ông bà bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến tình cảm không còn. Ông bà đã ly thân trong thời gian dài cách đây trên 05 năm, trong thời gian đó hai bên không hàn gắn được tình cảm. Quá trình giải quyết vụ kiện Tòa án triệu tập các bên đến để làm việc, nhưng ông T không có mặt từ đó cho thấy tình cảm ông bà trên thực tế đã rạn nứt, mâu thuẫn thật sự trầm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét yêu cầu xin ly hôn với ông T của bà N là có cơ sở chấp nhận.

Về" con" chung: Ông bà có 02 con chung tên Lương Vĩnh Phúc, sinh ngày 23/6/1994; Lương Vĩnh Đức, sinh ngày 01/6/1997. Các con đều đã trưởng thành nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng để xem xét.

Về"tài"sản"chung,"nợ"chung: Bà N trình bày là không có, nên không đặt ra xem xét nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Vì các lẽ trên,

- 2 -

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim N đối với ông Lương Vĩnh T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Kim N được ly hôn với ông Lương Vĩnh T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lương Vĩnh Phúc, sinh ngày 23/6/1994; Lương Vĩnh Đức, sinh ngày 01/6/1997. Các con đều trưởng thành nên không đặt trách nhiệm nuôi dưỡng xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N khai không có nên không đặt ra giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Kim N phải nộp 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 004632 ngày 29/11/2017 thành án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương./.

Cỡ chữ