vanban.org

Bản án 16/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thanh H đƣợc ly hôn với anh Lƣơng Xuân B.

Về con chung: 1. Giao con chung Lƣơng Hà Thiên N, sinh ngày 05/4/2014 cho chị Hà Thanh H trực tiếp nuôi dƣỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thanh H - Lương Xuân B"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thanh H đƣợc ly hôn với anh Lƣơng Xuân B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 16/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 23-02-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Phú Tâm;

Ông Nguyễn Chí Tâm.

- Thư ký phiên tòa:Bà Phan Thị Mỹ Dung – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 835/2017/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2018 giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thanh H, sinh năm 1983; Thƣờng trú : Số 76/10 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B; Địa chỉ: Số 160/22, khu phố Đ, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lƣơng Xuân B, sinh năm 1989; Thƣờng trú : Số 76/10 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 10 năm 2017, lờ i khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thanh H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Hà Thanh H và anh Lƣơng Xuân B tƣ̣ nguyện chung sống, tổ chƣ́ c đám cƣớ i và đăng ký kết hôn theo giấy chƣ́ ng nhâ ̣n kết hôn số 09 quyển số 01/2014 tại Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B vào ngày 21 tháng 01 năm 2014.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ta ̣i đ ịa chỉ 76/10 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B.Vợ chồng chung sống với nhau chỉ đƣợc ba năm, tuy nhiên đã phát sinh mâu thuẫn từ những ngày đầu kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh B thƣờng xuyên uống rƣợu bia say xỉn về khuya , chơi cờ bạc, không lo làm ăn phụ giúp gia đình, chị H nhiều lần khuyên can nhƣng anh B không thay đổi mà còn đập phá đồ đạc trong nhà và đánh vợ con. Từ tháng 12 năm 2016, anh B chuyển ra ngoài sinh sống đi đâu làm gì chị H không biết, từ đó vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng với anh B không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh B.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên: Lƣơng Hà Thiên N, sinh ngày 05/4/2014. Sau khi ly hôn chị H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh B cấp dƣỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng , bị đơn anh Lƣơng Xuân B đã đƣợc Tòa án tống đạt thông báo thu ̣ lý , triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 15/12/2017 và 03/01/2018; tham gia phiên tòa vào các ngày 30/01/2018 và 23/02/2018 nhƣng anh Lƣơng Xuân B vắng mặt không có lý do.

Ngày 28/11/2017, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống giữa chị Hà Thanh H và anh Lƣơng Xuân B tại địa phƣơng và đƣợc cung cấp: Chị H và anh B là vợ chồng, có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại số 76/10 khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Từ lúc sống chung tại địa phƣơng, anh B thƣờng xuyên đánh chị H, địa phƣơng biết và nhiều lần đƣa về công an phƣờng Đ giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến nhƣ sau: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhận định:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Chị Hà Thanh H có đơn yêu cầu giải quyết về tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị với anh Lƣơng Xuân B, cả hai có địa chỉ thƣờng trú tại phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình D. Vì vậy, đây là vụ án tranh chấply hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Sự có mặt của đƣơng sự: Nguyên đơn chị Hà Thanh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lƣơng Xuân B đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng anh B vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thanh H và anh Lƣơng Xuân B là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 09 quyển số 01/2014 tại Ủy ban nhân dân phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B vào ngày 21 tháng 01 năm 2014nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình tố tụng nguyên đơn xác định bị đơn thƣờng rƣợu chè, cờ bạc, không lo làm ăn chăm lo cho gia đình, bị đơn thƣờng đánh đập vợ con, đập phá đồ đạc trong gia đình, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2016. Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn vợ chồng tại địa phƣơng, chính quyền địa phƣơng cũng xác định anh B thƣờng xuyên đánh chị H. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu anh B có mặt tại Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh B không đến. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên cả hai không muốn hàn gắn. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ chấp nhâ ̣n, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên: Lƣơng Hà Thiên N, sinh ngày 05/4/2014. Sau khi ly hôn chị Hà Thanh H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung và tự nguyện không yêu cầu anh B cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy, trong suốt quá trình tố tụng anh Lƣơng Xuân B không có ý kiến về vấn đề con chung, cháu Lƣơng Hà Thiên N còn nhỏ cần sự chăm sóc trực tiếp của mẹ nhiều hơn. Vì vậy, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án giao con chung cho chị Hoa trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dƣỡng.

[6] Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: Do chị Hà Thanh H không yêu cầu anh Lƣơng Xuân B cấp dƣỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị H nên chấp nhận.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Đƣơng sự không có tranh chấp nên Tòa án không giải quyết.

[8] Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hà Thanh H phải chịu án phí theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 271, 273, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thanh H đƣợc ly hôn với anh Lƣơng Xuân B.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung Lƣơng Hà Thiên N, sinh ngày 05/4/2014 cho chị Hà Thanh H trực tiếp nuôi dƣỡng.

Sau ly hôn, chị Hà Thanh H và anh Lƣơng Xuân B có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

2.2. Về cấp dƣỡ ng nuôi con: Anh Lƣơng Xuân B không phải thƣ̣c hiê ̣n nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nghia vu ̣̃

chung về tài sàn (nợ chung): Đƣơng sự không có tranh chấp nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí dân sƣ̣ sơ thẩm: Chị Hà Thanh H chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010290 ngày 08/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.

Cỡ chữ