- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Ngọc D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Ngọc D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/HNGĐ-ST Ngày: 31-01-2018 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Trường Phát.
Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huỳnh Thoa.
2. Ông Hồ Phi Công.
- Thư ký phiên tòa: Bà: Đinh Thị Hạ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Vào ngày 31 tháng 01 năm 2018, tại Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 634/2017/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2017 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2018/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1992.
Địa chỉ: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Anh Trần Ngọc D, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
3. Người làm chứng: Bà Lê Thị B, sinh năm: 1968.
Địa chỉ: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
(Chị Nguyễn Thị T, anh Trần Ngọc D và bà Lê Thị B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 02 tháng 11 năm 2017 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: trên cơ sở tự nguyện, chị và anh Trần Ngọc D tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai vào ngày 28 tháng 10 năm 2016. Đây là hôn nhân lần đầu của cả hai.
Cuộc sống chung của anh chị hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, do anh Trần Ngọc D không lo làm ăn, hay đánh bài, chơi game, chị có khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Trần Ngọc D vẫn không sửa đổi. Đến nay, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, tình cảm không còn, hôn nhân không thể tiếp tục tồn tại nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Ngọc D.
Về con chung: chị và anh Trần Ngọc D có 01 con chung là cháu Trần Anh T, sinh ngày 05 tháng 6 năm 2017. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Trần Ngọc D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Trần Ngọc D vẫn không có mặt tại Tòa án, do đó không có lời khai.
- Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân nhân dân huyện Xuân Lộc: về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và sự chấp hành pháp luật của các đương sự cơ bản đúng pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: về quan hệ hôn nhân, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Ngọc D; về con chung, giao cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng cháu Trần Anh T, tạm miễn cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Ngọc D; về tài sản chung và nợ chung không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật: chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Trần Ngọc D hiện đang cư trú tại ấp A, xã X, huyện X và yêu cầu nuôi dưỡng con chung nên quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc.
Về tư cách tham gia tố tụng: chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Trần Ngọc D nên chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn, anh Trần Ngọc D là bị đơn.
Về thủ tục tố tụng: chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Ngọc D đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị T và anh Trần Ngọc D tại phiên tòa là phù hợp với quy định tại khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Trần Ngọc D tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo luật định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Chị Nguyễn Thị T cho rằng vợ chồng mâu thuẫn là do anh Trần Ngọc D không chăm lo cho vợ con, hay đánh bài, chơi game. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Trần Ngọc D nhiều lần nhưng anh Trần Ngọc D vẫn không có mặt để làm việc và hòa giải hàn gắn tình cảm. Qua xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập và được thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy lời trình bày của chị Nguyễn Thị T phù hợp với nội dung của biên bản lấy lời khai của người làm chứng bà Lê Thị B là mẹ ruột của anh Trần Ngọc D vào ngày 14 tháng 12 năm 2017 về tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị T và anh Trần Ngọc D Như vậy đã đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị T và anh Trần Ngọc D mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Ngọc D là phù hợp.
Về con chung: chị Nguyễn Thị T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Anh T, sinh ngày 05 tháng 6 năm 2017. Xét thấy, cháu Trần Anh T đang còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, nên giao cháu Trần Anh T cho chị Nguyễn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Trần Ngọc D cấp dưỡng nuôi con nên tạm miễn cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Ngọc D.
Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: chị Nguyễn Thị T trình bày không có nên không xem xét.
Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Xét thấy, nhận định của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Ngọc D.
- Về con chung: giao cháu Trần Anh T, sinh ngày 05 tháng 6 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Tạm miễn cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Ngọc D.
Anh Trần Ngọc D được quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Khi cần thiết, chị Nguyễn Thị T và anh Trần Ngọc D được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 000420 ngày 03 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc, chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Ngọc D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND. Tỉnh Đồng Nai; - VKSND. Tỉnh Đồng Nai; - VKSND. Huyện Xuân Lộc; - CCTHADS Huyện Xuân Lộc; - UBND xã X; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu án văn; - Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trần Trường Phát |