- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án HNGĐ Nguyễn Văn C - Huỳnh Thị H"
- Tòa quyết gì? [1] Về hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn C với chị Huỳnh Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/HNGĐ-ST Ngày: 30/01/2018 V/v tranh chấp: ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Dư Thanh Nguyễn
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Thía
Ông Nguyễn Hải Hưng
- Thư ký phiên tòa: bà Dương Thị Lụa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 30 tháng 01 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 287/2017/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2017 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2017/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1976
Địa chỉ cư trú: ấp 2, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (có mặt).
2. Bị đơn: chị Huỳnh Thị H, sinh năm 1978
Địa chỉ cư trú: ấp 2, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 10 năm 2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:
- Về hôn nhân: anh và chị H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1996 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng gần đây vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và bất đồng về quan điểm, lối sống sinh hoạt hàng ngày. Do anh có công việc làm ăn nên thường xuyên xa nhà, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Nay anh nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với chị Huỳnh Thị H.
- Về con chung có 02 người con chung tên Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1997 và Nguyễn Bảo E, sinh ngày 26/5/2008, hiện người con chung tên Tuấn A đã trưởng thành có gia đình và sống riêng. Đối với người con chung tên Bảo E hiện nay do chị H nuôi dưỡng, anh C đồng ý để chị H tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: anh và chị H đã thỏa thuận xong nên không yêu cầu.
- Về nợ chung: không có.
* Trong quá trình xét xử bị đơn chị Huỳnh Thị H trình bày: về hôn nhân chị và anh C chung sống với nhau vào năm 1996, không có đăng ký kết hôn, giữa chị và anh C không có mâu thuẫn gì trong quá trình chung sống mà anh C có người phụ nữ khác nên yêu cầu ly hôn với chị, chị đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh C.
Về con chung: có 02 người con chung Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1997 đã trưởng thành và cháu Nguyễn Bảo E, sinh ngày 26/5/2008 hiện đang sống chung với chị, sau khi ly hôn chị đồng ý nuôi cháu Bảo E, không yêu cầu anh Cuộc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: chị và anh C đã thỏa thuận xong nên không yêu cầu.
- Về nợ chung: không có.
* Tại phiên tòa cháu Nguyễn Bảo E trình bày: nguyện vọng của cháu trường hợp anh Cuộc và chị Hai ly hôn cháu được do mẹ nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: anh Nguyễn Văn C khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị Huỳnh Thị H, địa chỉ cư trú ấp 2, xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, theo khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về hôn nhân: anh Nguyễn Văn C và chị Huỳnh Thị H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1996. Trong quá trình chung sống giữa anh C và chị H đã xảy ra mâu thuẫn nên đã ly thân nhau, tại phiên tòa anh C và chị H cùng thống nhất ly hôn nhau. Tuy nhiên giữa anh C và chị H chung sống vợ chồng với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo Luật hôn nhân và gia đình tại điều 9 quy định “việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý” và tại khoản 1 Điều 14 quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng” và tại khoản 2 Điều 53 quy định “trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng…”. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn C với chị Huỳnh Thị H.
Về con chung: người con chung tên Nguyễn Tuấn A đã trưởng thành nên không xem xét. Đối với người con chung tên Nguyễn Bảo E có nguyện vọng được sống chung với chị H và hiện nay đang do chị H nuôi dưỡng, anh Cuộc đồng ý giao cháu Bảo E cho chị H nuôi dưỡng, nên tiếp tục giao cháu Bảo E cho chị H nuôi dưỡng là đảm bảo điều kiện cho người con chung phát triển bình thường, ổn định về tâm lý và tình cảm. Anh Nguyễn Văn C được quyền thăm nom cháu Bảo E không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: anh C và chị H đã thỏa thuận xong nên không xem xét.
Về nợ chung: không có nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân và đình sơ thẩm anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng, anh C đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng được đối trừ chuyển thu; chị Huỳnh Thị H không phải chịu án phí. Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; Điều 220; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn C với chị Huỳnh Thị H.
[2] Về con chung: giao cháu Nguyễn Bảo E, sinh ngày 26/5/2008 cho chị Huỳnh Thị H nuôi dưỡng, cháu Nguyễn Bảo E đang do chị H nuôi dưỡng chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn C được quyền thăm nom cháu Bảo E không ai được cản trở.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Huỳnh Thị H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: anh Nguyễn Văn C và chị Huỳnh Thị H đã thỏa thuận xong nên không xem xét.
[5] Về nợ chung: không có nên không xem xét.
[6] Về án phí: anh Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng, ngày 12/10/2017 anh C đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011634 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, được đối trừ chuyển thu. Chị Huỳnh Thị H không phải chịu án phí.
[7] Án xử sơ thẩm anh Nguyễn Văn C, chị Huỳnh Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Bản án theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Phòng GĐ-KT TAND tỉnh Cà Mau (1b); - VKSND huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (1b); - Chi cục thi hành án huyện U Minh, tỉnh Cà Mau (1b); - Các đương sự (mỗi đ/s1b); - Lưu hồ sơ, văn thư (1b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dƣ Thanh Nguyễn |