- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thị H - Hoàng Văn H1"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn H1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/HNGĐ-ST Ngày 24 – 10 - 2018 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Bảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Nghiêm và ông Phạm Văn Xuân
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thảo Nguyên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Chu Hương Thủy, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 111/2018/TLST- HNGĐ, ngày 11 tháng 7 năm 2018, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 19 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị H, sinh năm 1982, địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 6 năm 2018, bản tự khai, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn chị Đào Thị H trình bày: Chị và anh Hoàng Văn H đã đăng ký kết hôn năm 2003 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc lừa dối. Vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau khi chị H sinh con gái thứ hai thì phải cắt bỏ cổ tử cung, do anh chị chưa có con trai nên anh H1 sinh ra chán nản, thường xuyên rượu chè rồi gây sự chửi bới, thậm trí có lần còn đánh đập chị. Chị H đã nhiều lần bỏ về nhà ngoại, sau đó vì thương con cái nên chị đã quay về nhưng anh H1 không thay đổi, vẫn tiếp tục rượu chè, chửi bới chị, anh chị em bên nhà chồng cũng không thông cảm cho hoàn cảnh của vợ chồng chị. Nay giữa chị và anh Hoàng Văn H1 không tìm được tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 7/2018 đến nay không quan tâm chăm sóc, yêu thương lẫn nhau. Chị Đào Thị H yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Văn H1.
Về con chung: Chị Đào Thị H và anh Hoàng Văn H1 có 02 con chung tên là Hoàng Hồng H, sinh ngày 23/02/2004 và Hoàng Thị Kim C, sinh ngày 21/5/2009. Khi ly hôn, chị Đào Thị H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu đến khi trưởng thành không yêu cầu anh Hoàng Văn H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương về mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Đào Thị H và anh Hoàng Văn H1. Anh Hoàng Văn H1 là công dân vẫn sinh sống tại Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Ông Hoàng Văn B (bố đẻ của anh Hoàng Văn H1) đã thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Hoàng Văn H1. Đồng thời, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết văn bản tố tụng theo đúng quy định.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật: Về tố tụng, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Yêu cầu ly hôn và được nuôi con chung của chị Đào Thị H là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Hoàng Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh cố tình vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, không có lý do. Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Đào Thị H và anh Hoàng Văn H1 là hợp pháp vì được kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã thực hiện đúng các quy định pháp luật về đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống do không còn thương yêu nhau nên anh chị sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mâu thuẫn xảy ra đã trầm trọng không thể khắc phục được, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị chị Đào Thị H yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Văn H1 là có căn cứ quy định tại các Điều 19, 51, 56, 57, 58 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị Đào Thị H và anh Hoàng Văn H1 có 02 con chung tên là Hoàng Hồng H, sinh ngày 23/02/2004 và Hoàng Thị Kim C, sinh ngày 21/5/2009 chị Đào Thị H yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh Hoàng Văn H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Văn H1 không đến tham gia tố tụng nên không có yêu cầu của anh đối với việc nuôi con, mặt khác, chị Đào Thị H có đủ điều kiện về vật chất và tinh thần để nuôi dưỡng con chung. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Hoàng Thị Kim C và Hoàng Hồng H đến khi đủ 18 tuổi của chị Đào Thị H có căn cứ và phì hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đào Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đào Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Đào Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị H được ly hôn với anh Hoàng Văn H1.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Hồng H, sinh ngày 23/02/2004 và Hoàng Thị Kim C, sinh ngày 21/5/2009 cho chị Đào Thị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Hoàng Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Đào Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Số tiền chị Đào Thị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2015/0000824, ngày 11 tháng 7 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn được khấu trừ thành tiền án phí.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát huyện Hữu Lũng; - Chi cục THA dân sự huyện Hữu Lũng; - VKS tỉnh lạng Sơn; - UBND xã H, huyện Hữu Lũng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Quốc Bảo |