vanban.org

Bản án 16/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LÂM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16 /2018/HNGĐ-ST
Ngày: 22/5/2018
V/v tranh chấp ly hôn và con
chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Trung Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Viết Tuấn 2. Bà Nguyễn Thị Chấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Ngân- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tham gia phiên toà:Ông Lưu Văn A -Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số: 462/ 2017/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2017về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/ 2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị Th, sinh năm 1987 Nơi ĐKHKTT: Khu tập thể chăn nuôi P, xã D, huyện G, Thành phố H Địa chỉ cư trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố H 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1982 (vắng mặt lần 2 không có lý do) Địa chỉ cư trú: Khu tập thể chăn nuôi P, xã D, huyện G, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20/11/2017 và tại các lời khai tại tòa cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là chị Đào Thị Th trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Anh T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện G, thành phố H ngày 31/10/2014, cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc với nhau chỉ thời gian ngắn đến tháng 12/2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Nguyễn Anh T có quan hệ trai gái, cờ bạc, chị Th đã nhiều lần tha thứ để vợ chồng chung sống, nhưng anh T vẫn chứng nào tật ấy không thay đổi, từ đó tình cảm vợ chồng không thể cải thiện được nên ngày 30/10/2017 chị Th đã bỏ về bố mẹ đẻ ở từ đó cho đến nay. Vợ chồng ly thân nhau từ khi đó đến nay. Nay chị Th xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Anh T

Về con chung: Chị Đào Thị Th và anh Nguyễn Anh T có một con chung là Nguyễn Trọng Đ sinh ngày 18/9/2016, hiện nay cháu đang ở với chị Th, nếu vợ chồng ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng.

Về tài sản chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị Đào Thị Th không có yêu cầu nào khác

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng không thể giao được cho anh Nguyễn Anh T vì anh Nguyễn Anh T đi làm từ sáng sớm đến tối mới về, bố mẹ anh Nguyễn Tuấn A cũng không nhận thay và cũng không làm việc với Tòa án, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh Nguyễn Anh T cũng không có ý kiến gì gửi cho Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay chị Th vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình cụ thể là về quan hệ hôn nhân chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Nguyễn Anh T; về con chung vợ chồng có một con chung là Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày 18/9/2016, chị xin được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng; về tài sản chung không yêu cầu tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, cũng như quá trình thu thập chứng cứ đảm bảo đúng quy định.

Các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa có mặt đúng như trong quyết định, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên tòa.

Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đầy đủ và đúng quy định trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn không chấp hành các quy định về quyền và nghĩa vụ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th xử cho chị Th được ly hôn anh T; về con chung giao cháu Nguyễn Trọng Đ sinh ngày 18/9/2016 cho chị Th nuôi, tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng đối với anh T đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có yêu cầu mới; về tài sản không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến của nguyên đơn tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên thấy rằng: [1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Anh T Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng không tống đạt trực tiếp mà tiến hành thủ tục niêm yết công khai tại nơi cư trú các văn bản tố tụng, tại phiên tòa hôm nay anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt bị đơn được quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Th kết hôn với anh Nguyễn Anh T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện G ngày 31/10/2014 nên đây là một hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới chị Th và anh T đã có thời gian sống hạnh phúc, theo chị Th thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn bắt đầu từ tháng 12 năm 2015, nguyên nhân là do anh T có quan hệ trai gái, cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, từ đó xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị Th đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 10 năm 2017 đến nay, nay chị xét thấy tình cảm không còn nên xin được ly hôn anh T, anh T mặc dù đã biết được việc chị Th xin ly hôn, nhưng anh T không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình tại Tòa án, mục đích của anh là gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, chứ không phải kéo dài để vợ chồng về đoàn tụ với nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Th và anh T đã trầm trọng , đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Th, xử cho chị Th được ly hôn anh T là phù hợp với ý kiến của Kiểm sát viên cũng như phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. [3] Về quan hệ con chung: Chị Đào Thị Th và anh Nguyễn Anh T có một con chung là Nguyễn Trọng Đ sinh ngày 18/9/2016, hiện nay cháu Đ đang ở với chị Th có cuộc sống ổn định, bản thân cháu hiện chưa đủ 36 tháng tuổi cần có sự chăm sóc của người mẹ nên cần xử giao cho chị Th nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng đối với anh T khi cháu Đ đủ 18 tuổi hoặc có yêu cầu mới. [4] Về tài sản chung: Chị Đào Thị Th không yêu cầu, anh Nguyễn Anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [5] Về án phí sơ thẩm: Chị Đào Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứvào khoản 1 Điều 56, 58, 81và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. 1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Anh T. 2/ Về con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Trọng Đ sinh ngày 18/9/2016 cho chị Đào Thị Th nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung hàng tháng đối với anh Nguyễn Anh T đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có yêu cầu mới. Không ai được cản trở việc thăm nom con chung của anh Nguyễn Anh T 3/Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. 4/ Về án phí sơ thẩm: Chị Đào Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ, số tiền 300.000đ mà chị Th đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2010/0003318 ngày 05/12/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G chuyển thành án phí ly hôn sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn là chịĐào Thị Th, vắng mặt bị đơn là anh Nguyễn Anh T. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với nguyên đơn, bị đơn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ