- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án tranh chấp ly hôn giữa chị Phạm Thị T và anh Phạm Văn L"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận y u cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T; Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Phạm Văn L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/HNGĐ-ST Ngày: 23/01/2018 (V/v Tranh chấp xin ly hôn) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI - TỈNH BẠC LIÊU
V i thành ph n H i đ ng x t x s th m g m c :
Th m phán - Ch t a phiên tòa: Ông Lưu Hải Đăng
Các h i th m nhân dân:
1/. Ông Châu Đông Dương
2/. Bà Phạm Thị Nhâm.
Th ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi - Cán ộ T a án nhân dân huyện Đông Hải, t nh Bạc Li u.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Khoa, Kiểm sát vi n.
Ngày 23 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở T a án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 373/2017/TLST-HN ngày 31 tháng 10 năm 2017 về việc “tranh chấp xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: chị Phạm Thị T, sinh năm 1987
Địa ch : ấp PM, xã ĐT A, huyện ĐH, t nh Bạc Li u.
2/. Bị đơn: anh Phạm Văn L, sinh năm 1983
Địa ch : ấp PM, xã ĐT A, huyện Đông Hải, t nh Bạc Li u
(Chị T có mặt tại phiên tòa, anh L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/10/2017, lời khai trong quá trình tố tụng, cũng như lời trình ày tại phi n t a hôm nay, nguy n đơn chị Phạm Thị T trình bày:
Chị và anh Phạm Văn L chung sống với nhau vào năm 2008, hôn nhân do quen iết trước được sự đồng ý của cha mẹ hai n có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Hôn nhân tr n tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Thới Bình, huyện Thới Bình, t nh Cà Mau theo quy định pháp luật vào ngày 12/3/2008.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Thời gian sau vợ chồng phát sinh nhiều mâu Tẫn, tính tình không hợp nhau, vợ chồng không cùng quan điểm sống. Anh L không quan tâm chăm sóc vợ con, trong đời sống vợ chồng anh L muốn làm việc gì cũng không trao đổi ý kiến với chị.Vợ chồng chị đã ly thân nhau cách nay hơn 01 năm (tháng 7/2016). Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài . Nay chị y u cầu ly hôn với chồng chị là anh Phạm Văn L.
Về nuôi con chung: quá trình chung sống anh chị có 01 con chung t n là: Phạm Khánh V, sinh ngày 08/4/2009. Hiện nay cháu V đang sống với anh L. Khi ly hôn chị đồng ý giao con cho anh L tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng chị không có tài sản chung, vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng anh chị n n không y u cầu T a án xem xét giải quyết.
Đối với anh Phạm Văn L: Mặc dù anh L đã được T a án tống đạt hợp lệ thông áo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông áo về phi n họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và h a giải, nhưng anh L vẫn không đến T a án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của T a án, và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, T a án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh L theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phi n t a phát iểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguy n đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với ị đơn anh Phạm Văn L chấp hành chưa nghi m theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: giữa chị T và anh L kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, n n hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và ảo vệ. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu Tẫn không hàn gắn được, hiện tại chị T xác định chị không c n tình cảm với anh L. Điều này chứng tỏ như vậy cuộc sống vợ chồng của chị T và anh L nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không c n hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, n n đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn với anh L là phù hợp với quy định của pháp luật;
Về con chung: Từ lúc vợ chồng chị T và anh L ly thân với nhau thì người con tên Phạm Khánh V, sinh ngày 08/4/2009 là do anh L trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Anh L vẫn đảm ảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này. Chị T cũng đồng ý giao con cho anh L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao người con t n Phạm Khánh V, sinh ngày 08/4/2009 cho anh L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là hoàn toàn phù hợp.
Anh L không y u cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con, n n đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Chị T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị T và anh L không đặt ra y u cầu, n n đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí thì chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghi n cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phi n t a và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phi n t a, tr n cơ sở phát iểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: chị T có đơn khởi kiện y u cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh L. Anh L có địa ch cư trú tại huyện Đông Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án Tộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.
Anh L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phi n t a xét xử sơ thẩm, nhưng anh L vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh L.
Về nội dung vụ án: giữa chị T và anh L kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy an nhân dân thị trấn Thới Bình, huyện Thới Bình, t nh Cà Mau cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 12/3/2008 n n hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và ảo vệ.
Xét y u cầu ly hôn của chị T đối với anh L thì Hội đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải iết y u thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến ộ. Nhưng thời gian chung sống chị T và anh L lại không làm được, mà c n phát sinh nhiều mẫu Tẫn không thể hàn gắn lại được. Anh chị cũng đã ly thân khoảng gần 02 năm qua. Trong thời gian qua cả hai anh chị đều không có iện pháp cụ thể nào để thể hiện anh chị muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không c n quan tâm chăm sóc cho nhau. Tại phiên tòa chị T vẫn cương quyết xin ly hôn với anh L, chị xác định hiện tại chị không c n tình cảm gì với anh L, nếu vợ chồng quay về với nhau thì cuộc sống chung cũng không c n hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm của vợ chồng phải được xuất phát từ hai phía, nhưng phía chị T xác định hiện tại chị đã không c n tình cảm gì với anh L, như vậy chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của chị T và anh L là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không c n hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, n n căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận y u cầu xin ly hôn của chị T đối với anh L là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nuôi con chung: từ lúc chị T và anh L ly thân với nhau thì người con t n Phạm Khánh V, sinh ngày 08/4/2009 là do anh L trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Anh L vẫn đảm ảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này. Chị T cũng đồng ý giao con cho anh L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục. Do đó Hội đồng xét xử quyết định giao người con t n Phạm Khánh V, sinh ngày 08/4/2009 cho anh L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là hoàn toàn phù hợp.
Anh L không y u cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con, n n Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thỡi miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị T.
Chị T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Nếu sau này chị T chứng minh được anh L nuôi con, nhưng không lo lắng chăm sóc tốt cho cuộc sống của con thì chị có quyền nộp đơn y u cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung: chị T và anh L không y u cầu n n Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Quan điểm của Kiểm sát vi n tham gia phi n t a là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ n u tr n,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án;
Tuy n xử:
1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận y u cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T; Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Phạm Văn L.
2/. Về nuôi con chung: Giao người con t n Phạm Khánh V, sinh ngày 08/4/2009 cho anh Phạm Văn L được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục.
Chị Phạm Thị T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
Anh Phạm Văn L không y u cầu chị Phạm Thị T phải cấp dưỡng nuôi con, n n Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.
4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: chị Phạm Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo i n lai T số 0006781 ngày 31 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải.
Án xử sơ thẩm công khai áo cho chị Phạm Thị T iết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuy n án. Anh Phạm Văn L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ản án hoặc ản án được tống đạt hợp lệ.
| N i nhận: - TAND t nh BL - VKSND huyện Đông Hải - THA huyện Đông Hải - UBND thị trấn Thới Bình. - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Lƣu Hải Đăng |