vanban.org

Bản án 16/2018/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Đ.

Về con chung: Sau khi ly hôn, giao con chung là cháu Nguyễn Hải P, sinh ngày 26/7/2015 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu P trưởng thành. Anh Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Đ.
  • Căn cứ chính? luật tố tụng; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH LONG
TỈNH BÌNH PHƢỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 16/2018/HN-ST
Ngày 14/6/2018
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƢỚC

- Thành phần Hội đồng xét sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Điểu Hải

Bà Trần Kim Phượng

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Phạm Tân Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phƣớc tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bình Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 98/2018/TLST-HNGĐ ngày 09/3/2018, về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1993

Địa chỉ: Tổ 4, ấp TB, xã TL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986

Địa chỉ: Tổ 5, ấp TA, xã TL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Hải Y, sinh năm 1959;

- Bà Mai Thị N, sinh năm 1959;

- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1964

Cùng Địa chi: Tổ 4, ấp TB, xã TL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn khi tham gia tố tụng và tại phiên tòa thì: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn Đ vào năm 2014. Hôn nhân tự nguyện, kết hôn lần đầu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Lương, thị xã Bình Long ngày 05/9/2014. Cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh Đ không có hạnh phúc, nguyên nhân do anh Đ thiếu sự quan tâm chăm sóc vợ con, thiếu tôn trọng vợ và gia đình vợ, mải chơi game. Từ những nguyên nhân đó nên mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, kéo dài và trở nên trầm trọng. Bản thân chị H thấy cuộc sống vợ chồng có nhiều áp lực, không còn vui vẻ, hạnh phúc nên chị đã chủ động sống ly thân với anh Đ từ đầu năm 2018 tới nay.

Về con chung: Giữa chị H và anh Đ có một con chung là cháu Nguyễn Hải P, sinh ngày 26/07/2015, hiện nay cháu P đang sống cùng với chị H. Từ khi vợ chồng sống ly thân tới nay, anh Đ cũng không quan tâm chăm sóc và cấp dưỡng nuôi con.

Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ, sau khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu P, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung.

Anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Anh Đ thống nhất với trình bày của chị H về quan hệ hôn nhân, về con chung. Còn về nguyên nhân mâu thuẫn thì anh trình bày không thống nhất với chị H. Theo anh Đ thì vợ chồng anh vẫn có cuộc sống hạnh phúc, việc mâu thuẫn vợ chồng là có nhưng chỉ là những vấn đề nhỏ nhặt hàng ngày như những cặp vợ chồng khác. Từ đầu năm 2018 tới nay chị H đột ngột bỏ về nhà cha mẹ ở, sống ly thân với anh, anh có đến khuyên nhủ vợ về nhưng chị H không về và làm đơn ly hôn. Từ khi chị H sống ly thân với anh thì anh có đến thăm con nhưng chị H có ý ngăn cản tình cảm cha con của anh.

Trong quá trình tố tụng, anh Đ không đồng ý ly hôn với chị H cũng không đồng ý giao con chung là cháu Nguyễn Hải P cho chị H nuôi dưỡng. Tại phiên tòa hôm nay anh Đ đồng ý ly hôn nhưng không đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng mà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ không có yêu cầu phản tố.

Lời khai của những ngƣời làm chứng:

- Lời khai của ông Nguyễn Hải Y và bà Mai Thị N (là cha, mẹ của anh Nguyễn Văn Đ): Sau khi kết hôn thì vợ chồng H, Đ ở riêng chứ không ở cùng với gia đình, khi H sinh con được khoảng 6,7 tháng thì ông Y, bà N về quê ở tỉnh Hưng Yên nên không biết mâu thuẫn của H, Đ như thế nào. Đầu năm 2018 ông Y bà N ở quê vào thì biết H đã bế con về ở với cha mẹ, không sống chung với Đ nữa. Qua tìm hiểu thì được biết H cho rằng Đ mải chơi game, còn Đ thì cho rằng H không hoàn thành việc chăm sóc con và công việc nội trợ, thường nhắn tin và điện thoại cho người khác. Từ đó mâu thuẫn phát sinh và sống ly thân. Đ mong muốn hàn gắn vợ chồng nhưng H không đồng ý, việc cư xử của H với Đ và gia đình ông cũng không đúng mực.

- Lời khai của bà Nguyễn Thị X (mẹ của Nguyễn Thị H): sau khi kết hôn, vợ chồng H, Đ chỉ chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, kết hôn khoảng 4, 5 tháng thì Đ bắt đầu đối xử lạnh nhạt với H. Biểu hiện bằng việc không quan tâm chăm sóc, không giúp đỡ vợ chăm sóc con nhỏ và làm việc nhà, coi vợ chỉ là ôsin. Đ còn nghi ngờ H có quan hệ với người khác khi thấy H nhắn tin và gọi điện thoại. Đầu năm 2018 H gọi điện thoại cho bố mẹ nói không thể tiếp tục chung sống với Đ nữa và yêu cầu đến đón H về. Từ đó tới nay H sống cùng với ông bà, không quay lại với Đ nữa, bản thân Đ cũng không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc với H.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Đ là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết, xét xử, Thẩm phán, Thư ký tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật. Xác định đúng quan hệ tranh chấp và thành phần tham gia tố tụng. Các đương sự tham gia tố tụng cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị H đã trầm trọng, tại phiên tòa anh Đ cũng đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án xem xét chấp thuận việc thuận tình ly hôn. Về con chung: theo quy định của pháp luật thì con dưới 3 tuổi phải giao cho người mẹ nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Hải P cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Sau này nếu chị H nuôi con không tốt thì anh Đ có quyền xin thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

Về áp dụng luật tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp Ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

Về áp dụng pháp luật nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị H bắt đầu từ năm 2014 nên áp dụng luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân của họ là hợp pháp. Quá trình chung sống chị H và anh Đ không có hạnh phúc. Từ lời trình bày của hai đương sự và lời khai của những người làm chứng, Hội đồng xét xử nhận định nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ là do vợ chồng thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, thiếu sự bàn bạc chia sẻ với nhau về những khó khăn trong cuộc sống vợ chồng. Từ đó dẫn tới vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng không được giải quyết, mâu thuẫn lâu ngày trở nên trầm trọng, mất hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt, hiện nay hai người đã sống ly thân nên quan hệ hôn nhân trên thực tế là không còn. Chị H không còn muốn hàn gắn hạnh phúc với anh Đ. Tại phiên tòa anh Đ cũng đồng ý ly hôn, đây là sự thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp thuận.

Về con chung: Giữa chị H và anh Đ có một con chung là cháu Nguyễn Hải P, sinh ngày 26/7/2015. Hiện nay cháu P đang chung sống với chị H. Xét cháu P còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi) nên cần sự chăm sóc của người mẹ, bản thân anh Đ cũng không chứng minh được chị H không đủ khả năng nuôi con nên chấp nhận yêu cầu được nuôi con của chị H, chị H không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

Về tài sản chung: Hai đương sự không ai có yêu cầu chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long phát biểu tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

-Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Đ.

2. Về con chung: Sau khi ly hôn, giao con chung là cháu Nguyễn Hải P, sinh ngày 26/7/2015 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu P trưởng thành. Anh Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung: Hai đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên tòa án không xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã đóng theo biên lai thu số 0004025, quyển số 000081 ngày 05/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Long.

Án xử sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ