vanban.org

Bản án 16/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Võ Bá T.

Buộc ông Võ Bá T phải thanh toán cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V số tiền nợ gốc và lãi là 16.993.884 đồng (mười sáu triệu chín trăm chín mươi ba nghìn tám trăm tám mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 10.371.476 đồng và tiền lãi là 6.622.408 đồng. Kể từ ngày có đơn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty tài chính TNHH Ngân hàng V - Ông Võ Bá T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Võ Bá T.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2018/DS-ST
Ngày: 31-01-2018
V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ t a phiên toà: Bà Phan Thu Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Cường.

2. Bà Nguyễn Anh Thư.

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngày 31 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 406/2017/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2017 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2017/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2018/QĐST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V.

Địa chỉ trụ sở: Tầng 2, Tòa nhà R, số 9, đường Đ, Phường 12, Quận 4, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G – Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền T – Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý - Trung tâm thu hồi nợ - Khối Quản trị rủi ro – Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V.

(văn bản ủy quyền số 14/UQ-QTRR.17 ngày 22/3/2017).

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Vỏ Thị Ngọc N, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Ấp 1B, xã T, huyện B, tỉnh L.

(văn bản ủy quyền số 1.1/UQ-GĐK-TDTD ngày 20/11/2017).

Bị đơn: Ông Võ Bá T, sinh năm 1976.

Địa chỉ cư trú: Ấp 1B, xã A, huyện B, tỉnh L.

(Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 01/9/2017, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V do người đại diện theo ủy quyền bà Vỏ Thị Ng c N trình bày:

Ngày 19/8/2015 ông Võ Bá T có vay của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V (sau đây viết tắt là Công ty) số tiền 10.739.815 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 20150820-103023-0035 ngày 19/8/2015, mục đích vay là tiêu dùng cá nhân, lãi suất thỏa thuận 4.58%/tháng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Võ Bá T có trách nhiệm thanh toán số tiền 18.590.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 25 tháng, 24 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 731.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.046.000 đồng, kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 01/10/2015.

Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, ông T đã nhận số tiền vay và thanh toán cho Công ty được 2 kỳ với tổng số tiền là 1.474.000 đồng. Từ ngày 30/01/2016 ông T không thanh toán thêm bất cứ khoản nào cho Công ty.

Công ty đã nhiều lần nhắc nhở ông T nhưng ông T vẫn không trả nợ. Nay Công ty yêu cầu ông T có trách nhiệm trả số tiền là 16.993.884 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 10.371.476 đồng và số tiền nợ lãi là 6.622.408 đồng.

Sự việc đã được Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập thủ tục hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn ông Võ Bá T vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Vỏ Thị Ngọc N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu ông Võ Bá T thanh toán toàn bộ nợ vay số tiền 16.993.884 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Vỏ Thị Ngọc N có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Võ Bá T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung tranh chấp:

Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V và ông Võ Bá T ký Hợp đồng tín dụng số 20150820-103023-0035 ngày 19/8/2015 với số tiền vay là 10.739.815 đồng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Võ Bá T có trách nhiệm thanh toán số tiền 18.590.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 25 tháng, 24 tháng đầu mỗi tháng trả số tiền 731.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.046.000 đồng. Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, ông T đã thanh toán cho Công ty được 2 kỳ với tổng số tiền là 1.474.000 đồng. Từ ngày 30/01/2016 ông T không thanh toán thêm bất cứ khoản nào cho Công ty là vi phạm ngh a vụ trả nợ theo các Điều 474, 478 Bộ luật dân sự năm 2005.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện ý kiến về việc vay nợ nêu trên. Do đó, căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 20150820-103023-0035 ngày 19/8/2015 và lời trình bày của Công ty xác định ông T còn nợ Công ty số tiền 16.993.884 đồng nhưng ông T không thanh toán số tiền trên cho Công ty là đã vi phạm ngh a vụ trả nợ, yêu cầu thanh toán số nợ vay và tiền lãi phát sinh của Công ty là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí: Buộc ông Võ Bá T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Công ty.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 474, 478 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Võ Bá T.

Buộc ông Võ Bá T phải thanh toán cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V số tiền nợ gốc và lãi là 16.993.884 đồng (mười sáu triệu chín trăm chín mươi ba nghìn tám trăm tám mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 10.371.476 đồng và tiền lãi là 6.622.408 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Võ Bá T phải chịu 849.694 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V số tiền 424.847 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005831 ngày 27/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ