vanban.org

Bản án 16/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Đào Thị Trúc H với anh Nguyễn Thanh T là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Đào Gia H - sinh ngày 27/01/2016 cho chị Đào Thị Trúc H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Nguyễn Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY AN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________
Bản án số: 16/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 11/8/2017
Về việc tranh chấp:“Không
công nhận là vợ chồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Điểu và ông Võ Hùng Định.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Triều - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuy An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An tham gia phiên tòa: Ông Bùi Khắc Nghiệp - Kiểm sát viên.

Vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 11 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2017/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2017/QĐST-HNGĐ ngày 17-7-2017; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị Trúc H - sinh năm 1997.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T - sinh năm 1990.

Đều trú tại: Thôn Tuy D, xã An H, huyện Tuy A, Phú Yên.

Các đương sự đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đào Thị Trúc H trình bày:

Chị Đào Thị Trúc H và anh Nguyễn Thanh T tự nguyện tìm hiểu rồi sống chung như vợ chồng không có đăng ký kết hôn từ tháng 7/2015, đến ngày 08/9/2015 thì tổ chức đám cưới. Trong quá trình sống chung xảy ra nhiều mâu thuẫn, không có hạnh phúc, nên chị H bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 10/2015 đến nay. Thời gian không sống chung, anh T không quan tâm chăm sóc đến chị H và con, cũng không gửi tiền cho chị nuôi con, mà còn ngoại tình với người phụ nữ khác. Tháng 10/2016, chị H nộp đơn yêu cầu không công nhận vợ chồng, sau đó được hòa giải nên đã rút đơn để vợ chồng đoàn tụ sống chung, nhưng anh T không đoàn tụ với vợ con. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ về sống chung, chị H với anh T cũng không có đăng ký kết hôn nên chị H yêu cầu Tòa án không công nhận chị H với anh T là vợ chồng.

Về con chung: Chị H với anh T có 01 con chung là Đào Gia H - sinh ngày 27/01/2016, hiện cháu H do mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, nay chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Thanh T trình bày: Anh T và chị H tự nguyện tìm hiểu rồi về sống chung với nhau, gia đình hai bên có tổ chức tiệc cưới, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Anh T và chị H chỉ sống chung với nhau được hơn 01 tháng thì xảy ra mâu thuẫn, chị H bỏ về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 10/2015 đến nay. Trong thời gian này, chị H nghi ngờ chồng ngoại tình nhưng thực sự không có, anh T với người phụ nữ mà chị H nghi ngờ chỉ là bạn bè, xem nhau như anh em. Lúc chị H sinh con, anh T cũng có trả tiền viện phí 500.000đ, sau đó chị H về nhà cha mẹ ruột sinh sống nên anh T mới không đưa tiền cho chị H nuôi con. Nay tình cảm không còn, không thể đoàn tụ, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai nên anh T thống nhất yêu cầu Tòa không công nhận là vợ chồng với chị H. Về con chung và tài sản chung: Anh T thống nhất ý kiến của chị H và không có yêu cầu khác.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An tham gia phiên tòa phát biểu: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu không công nhận là vợ chồng giữa chị H với anh T. Về con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Tuy An nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Trúc H và anh Nguyễn Thanh T tự nguyện tìm hiểu, đến tháng 9/2015 thì tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và chung sống với nhau, nhưng không có đăng ký kết hôn. Từ tháng 10/2015 đến nay thì không còn sống chung. Chị H và anh T đều thống nhất đề nghị Tòa án không công nhận là vợ chồng.

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Nhưng chị H và anh T không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, nên căn cứ Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp không công nhận chị Đào Thị Trúc H và anh Nguyễn Thanh T là vợ chồng.

Về con chung: Chị H và anh T thừa nhận có 01 con chung là Đào Gia H - sinh ngày 27/01/2016, hiện do chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H và anh T thống nhất tiếp tục giao cháu H cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX ghi nhận. Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định, nhưng được khấu trừ vì đã nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 9, 14, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Đào Thị Trúc H với anh Nguyễn Thanh T là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Đào Gia H - sinh ngày 27/01/2016 cho chị Đào Thị Trúc H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Nguyễn Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đào Thị Trúc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 3335 ngày 13/02/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy An.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ