- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn G - Nguyễn Thị Hoàng M"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn G được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hoàng M.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:16 /2017/HNGĐ-ST Ngày 25/9/2017 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ửng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và bà Hoàng Thị Hiền.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2017 tại phòng xử án, Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 119/2017/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2017 về việc: “Ly hôn” giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn G, sinh năm 1993 – Có đơn xin vắng mặt.
Trú tại: Thôn Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hoàng M, sinh năm 1991 – Vắng mặt lần 2 không có lý do.
Trú tại: Thôn Q, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/5/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn G trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Hoàng M kết hôn từ năm 2014 có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Hôn nhân tự nguyên. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng thời gian sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh với chị M thường xuyên cãi nhau, chị M không tôn trọng anh dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Đến tháng 6 năm 2014 chị M đã bỏ đi khỏi địa phương, hiện nay anh không biết ở đâu và Tòa án đã tuyên bố mất tích đối với chị M. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị M.
Về con chung: Không có nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và HĐXX chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, thiết lập hồ sơ và thu thập chứng cứ đúng trình tự, đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn chuẩn bị xét xử. Như vậy về tố tụng Thẩm phán và HĐXX đã thực hiện đúng và đầy đủ.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa HĐXX xét thấy:
Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho chị Nguyễn Thị Hoàng M các thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, chị M đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 6/2014 đến nay không có tin tức gì. Ngày 12/4/2017, Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp đã ra quyết định giải quyết việc dân sự số: 04/2017/QĐST – VDS chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của anh Nguyễn G và tuyên bố chị Nguyễn Thị Hoàng M mất tích. Tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án chị M vẫn không có mặt tại địa phương, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng tại phiên tòa chị M vẫn vắng mặt. Ngoài ra nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo qui định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp.
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa anh G và chị M tự nguyện có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng thời gian sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh với chị M thường xuyên cãi nhau, chị M không tôn trọng anh dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, từ tháng 6/2014 chị M đã bỏ đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do vậy, việc anh G yêu cầu được ly hôn với chị M là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Về con chung: Không có nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Anh G phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sư; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn G được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hoàng M.
2. Về con chung: Không có nên không đề cập giải quyết.
3. Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
4. Về án phí: Anh Nguyễn G phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí mà anh G đã nộp theo theo biên lai số 0004677 ngày 11 tháng 05 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk R’Lấp; - Chi cục THADS huyện Đắk R’Lấp; - Các đươngsự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Anh Ửng |