- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Văn V xin ly hôn chị Vũ Thị V"
- Tòa quyết gì? Xử cho anh Nguyễn Văn V được ly hôn chị Vũ Thị V.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:16 /2017/HN&GĐ Ngày: 14/07/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, TP HÀ NỘI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phùng Văn Phong.
- Các hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Kim Oanh và bà Bùi Thị Vân Ngọc
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Cán bộ Tòa án.
- Đại diện VKSND tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trưởng - Kiểm sát viên.
Mở phiên toà ngày 14 tháng 07 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 94/2017/TLST – HN&GĐ ngày 18/05/2017 về việc kiện xin ly hôn theo quyết định Đưa vụ án ra xét xử số 17/2017/QĐXX-ST ngày 15/6/2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn V - Sinh năm 1975.
Bị đơn:
Chị Vũ Thị V
- Sinh năm 1976.
Đều có HKTT: Thôn Th, xã C, huyện X, Hà Nội.
Anh V có mặt, chị V đã được triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn ly hôn và lời khai tại Toà, anh Nguyễn Văn V trình bày:
Anh kết hôn cùng chị Vũ Thị V từ tháng 03/1996 là hôn nhân tự nguyện tiến bộ, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Can, huyện Phú Xuyên. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống với gia đình anh ngay. Vợ chồng hoà thuận hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp tình cảm, bất đồng quan điểm, một phần do anh bị bệnh vô sinh... khiến chị V chán nản dẫn đến thường xuyên to tiếng cãi vã lẫn nhau. Cuối năm 2001, chị Vòng bỏ anh về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Nghĩa Lập, xã Châu can sinh sống rồi bỏ đi làm ăn xa, không cho anh biết tin tức và địa chỉ. Từ đó đến nay vợ chồng đã ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, thời gian ly thân đã lâu nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vũ Thị V.
Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung nên không đề nghị Tòa xét.
Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ nần ai nên anh Vinh cũng không đề nghị Tòa xét.
Phía bị đơn chị Vũ Thị V:
Quá trình giải quyết vụ án, do chị Vòng không đến Tòa án làm việc nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã Châu Can và làm việc với ông Vũ Văn Th (Bố đẻ chị V). Qua xác minh, xác định chị Vòng vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn Lê Thượng, xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội nhưng thời điểm giải quyết vụ án không có mặt tại địa phương; Chị V vẫn thường xuyên liên lạc về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Nghĩa Lập, xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, Hà Nội.
Mặc dù nhiều lần được Tòa án triệu tập và giao các văn bản tố tụng thông qua ông Vũ Văn Th (Là bố đẻ chị V), phía ông Th cũng khẳng định đã giao và thông báo lại cho chị V việc Tòa án triệu tập chị V đến Tòa làm việc cũng như các văn bản tố tụng khác của Tòa án... nhưng chị V cố tình không đến Tòa để giải quyết việc ly hôn.
Quan điểm của UBND xã Châu Can cũng như ông Vũ Văn Th đều xác định vợ chồng Vinh Vòng tình cảm không còn, con cái không có, lại đã ly thân nhiều năm... Vì vậy đề nghị Tòa án cho anh V được ly hôn chị V để giải phóng.
Đại diện VKSND tham gia phiên tòa xác định:
Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định về thu thập chứng cứ, chấp hành đúng pháp luật tố tụng, tạo mọi điều kiện để các đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự; Đương sự có mặt đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa.
Do mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn V và chị Vũ Thị V đã trầm trọng, thời gian ly thân đã quá lâu khiến hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức... Vì vậy, đề nghị HĐXX căn cứ các điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn Văn V được ly hôn chị Vũ Thị V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở lời trình bày của các bên đƣơng sự và quan điểm của Đại diện VKSND, HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Mặc dù vào thời điểm Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, chị Vòng không có mặt tại nơi đăng ký HKTT là thôn Lễ Thượng, xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, Hà Nội, song quá trình Tòa án thu thập chứng cứ ( thông qua xác minh tại UBND xã Châu Can làm việc với ông Vũ Văn Th là bố đẻ chị V ) cho thấy chị V vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình ông Th. Tòa án đã nhiều lần triệu tập và giao các văn bản tố tụng cho chị V thông qua ông Th, ông Th khẳng định chỉ liên lạc được với chị V thông qua điện thoại vì chị Vòng không chịu cung cấp địa chỉ và đã thông báo lại cho chị V toàn bộ nội dung các lần triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn không thấy chị V đến Tòa làm việc. Việc chị V sau khi biết tin Tòa án giải quyết việc ly hôn nhưng không chịu cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ của mình cũng không chịu đến Tòa án làm việc mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ là trường hợp bị đơn cố tình giấu giếm địa chỉ, cố tình không chịu đến Tòa...Vì vậy, không cần sự có mặt của chị V, Tòa án vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử bình thường.
Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn V và chị Vũ Thị V tuy là cuộc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ có đăng ký kết hôn, nhưng cuộc sống vợ chồng tồn tại mới chỉ được một thời gian ngắn đã nảy sinh những bất đồng, từ năm 2001 đến nay vợ chồng đã tự sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Thời gian vợ chồng ly thân quá lâu là bằng chứng nói lên quan hệ hôn nhân giữa anh V và chị V mâu thuẫn đã hết sức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân là hạnh phúc gia đình không đạt được, sự tồn tại của hôn nhân chỉ còn là hình thức... Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn chị V của anh V là có cơ sở, phù hợp với đề nghị của Đại diện VKSND và các điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Do vợ chồng không có con chung nên không xét.
Về tài sản chung, công nợ: Quá trình giải quyết vụ án, do chị V không đến Tòa làm việc nên chưa có đầy đủ căn cứ xác định được tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt, phần tài sản công nợ của vợ chồng cần tách ra chưa xét trong vụ án này và sẽ được giải quyết trong vụ án dân sự độc lập nếu có tranh chấp phát sinh.
Anh Nguyễn Văn V phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình, điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án.
1. Xử cho anh Nguyễn Văn V được ly hôn chị Vũ Thị V.
2. Anh Nguyễn Văn V phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0004727 ngày 18/05/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. Anh V đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.
NƠI NHẬN
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TATP.
| - VKSND huyện, TP. - Chi cục THADS. - Các đương sự. - Lưu hồ sơ | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà ( Đã ký) Phùng Văn Phong |