vanban.org

Bản án 159/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 23/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 19/7/2024. Về biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HS-ST
Ngày: 23 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đồng Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hưng Quang.

2. Ông Nguyễn Trọng Di.

- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Hồng Lễ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn, Kiểm sát viên.

Ngày 23/12/2024, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 128/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-HS ngày 26/11/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc S (T), sinh năm 1990, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn C (chết) và bà Phan Thị Đ; Vợ, con: Không có;

Tiền án: Không;

01 tiền sự: Tại Quyết định số 24/QĐ-TA ngày 03/02/2023 Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, chưa chấp hành;

Hoạt động nhân thân:

- Ngày 11/12/2012 bị UBND huyện Tuy Phong Quyết định định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh;

- Tại Bản án số 21/2013/HSST ngày 27/03/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong tuyên phạt 7 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/11/2017.

- Tại Bản án số 27/2018/HSST ngày 24/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2019.

- Tại Bản án số 87/2020/HSST ngày 21/9/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/01/2022.

Bị cáo bị bắt từ ngày 19/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 19/7/2024, Tổ công tác Công an thị trấn P đến nhà ở của Nguyễn Ngọc S tại khu phố M, thị trấn P, huyện Tuy Phong để mời S về trụ sở làm việc vì có liên quan đến vụ việc Lê Tấn Hải, sinh năm 1982, trú tại: khu phố M, thị trấn P, huyện Tuy Phong tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của S. Khi đến nơi, Tổ công tác phát hiện S đang đứng trong hốc bên hông nhà vệ sinh, trên tay cầm 02 bơm kim tiêm, nghi vấn S sử dụng trái phép chất ma túy nên đã thu giữ 02 bơm kim tiêm giống nhau (dài 12cm) đã qua sử dụng, bên trong 02 bơm kim tiêm không có gì. Sau đó, Tổ công tác tiến hành kiểm tra người S thì phát hiện và thu giữ trong túi quần đùi bên trái S đang mặc có 01 gói nylon không màu, kích thước 4,5cm×05cm còn hở một đầu, bên trong gói nylon có 04 đoạn ống nhựa màu xanh trắng hàn kín hai đầu, kích thước giống nhau 01cm×02cm, bên trong 04 đoạn ống nhựa đều chứa chất rắn dạng nén và S khai nhận đây là Heroine của S cất giữ nhằm sử dụng cho cá nhân. Do điều kiện khách quan không đảm bảo nên tổ công tác tiến hành đưa S cùng tang vật về trụ sở Công an thị trấn P để làm việc.

01 gói nylon không màu, kích thước 4,5cm×05cm còn hở một đầu, bên trong gói nylon có 04 đoạn ống nhựa màu xanh trắng hàn kín hai đầu, kích thước giống nhau 01cm×02cm, bên trong 04 đoạn ống nhựa đều chứa chất rắn dạng nén đã thu giữ của Nguyễn Ngọc S được niêm phong trong phong bì số 01 gửi giám định được định danh là mẫu M.

Tại Bản kết luận giám định số 871/KL-KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1475gam, là Heroine (Heroin).

Nguyễn Ngọc S khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng

08 giờ 00 phút ngày 19/7/2024, Nguyễn Ngọc S một mình đi đến khu vực gần chùa Tòng Lâm thuộc xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình gặp một người thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch hỏi mua được 04 tép Heroine có cùng kích thước 01cm×02cm đựng trong 01 gói nylon có kích thước khoảng kích thước 4,5cm×05cm với giá 400.000 đồng. S cất giấu trên người rồi đi về nhà mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lục lượng Công an đến phát hiện, bắt quả tang và thu giữ số ma túy như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số 134/CT-VKSTP-HS ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa s th m:

- ki n của đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Tuy Phong: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định và vật chứng thu giữ được do đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng.

- ki n bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu là đúng, không oan. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 19/7/2024 tại nhà của bị cáo Nguyễn Ngọc S tại khu phố M, thị trấn P, huyện Tuy Phong, bị cáo Sơn bị bắt quả tang có hành vi cất giữ 0,1475gam Heroine mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, đây là hành vi trái pháp luật làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tiếp tay cho những phần tử xấu duy trì tệ nạn ma túy đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội, nhận thấy các tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Tuy Phong ngày càng nhiều và ma túy cũng là nguyên nhân của một số loại tội phạm khác. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Về biện pháp tư pháp:

Đối với vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng

nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, vật chứng gồm:

- 02 bơm kim tiêm (dài 12cm) đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì số 02 có các chữ ký của của Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Dũng, Trần Xuân Hoàng, Kiều Phương Linh và hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn P, huyện Tuy Phong.

- 01 gói nylon không màu có kích thước 4,5cm×05cm, 04 đoạn ống nhựa màu xanh trắng đã cắt lấy mẫu và 0,1155gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 871 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.

Đối với với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo, do không rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo

quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 19/7/2024.

2. Về biện pháp tư pháp:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy:

+ 02 bơm kim tiêm (dài 12cm) đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì số 02 có các chữ ký của của Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Dũng, Trần Xuân Hoàng, Kiều Phương Linh và hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn P, huyện Tuy Phong.

+ 01 gói nylon không màu có kích thước 4,5cm×05cm, 04 đoạn ống nhựa màu xanh trắng đã cắt lấy mẫu và 0,1155gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 871 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.

(Các vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31/10/2024)

3. Về án phí:

p dụng: Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ