vanban.org

Bản án 159/2023/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mùng Đại C. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 30/2023/HS-ST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Xử phạt bị cáo Mùng Đại C 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Mùng Đại C cho thị trấn Thạnh M, huyện Đ, tỉnh L, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùng Đại C tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mùng Đại C. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 30/2023/HS-ST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2023/HSPT
Ngày: 27/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng

Các thẩm phán:

Bà Đinh Thị Kiều Lương

Ông Vũ Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Liên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 73/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo Mùng Đại C, do có kháng cáo của bị cáo C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2023/HS-ST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo kháng cáo: Mùng Đại C, sinh năm 1991, tại L. Nơi cư trú: Trần P, TDP. Nghĩa T, thị trấn Thạnh M, huyện Đ, tỉnh L. Trình độ văn hoá: 09/12. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Hoa, Tôn giáo: Không. Họ tên cha: Mùng Phát S, sinh năm: 1960 (đã chết). Họ tên mẹ: Lìu Làu M, sinh năm: 1969. Bị cáo là con thứ 04 trong gia đình có 05 anh chị em. Họ tên vợ Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm: 1992 và có 02 con (con lớn nhất sinh năm 2016; con nhỏ nhất sinh năm 2021). Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/8/2022 - có mặt.

Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Mùng Đại C: Luật sư Lâm Văn G – Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH MTV T - Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ: Số X, phường xx, Quận xxx, Tp. Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: phường Xuân B, thành phố Long K, tỉnh Đồng Nai (có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 17/4/2022, Mùng Đại C (có Giấy phép lái xe hạng C số 790134021xxx do Sở Giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 05/7/2018) điều khiển xe ôtô tải biển số: 49C-231.xx (loại xe tải trọng 15 tấn) lưu thông trên Quốc lộ 20 theo hướng L đi thành phố Hồ Chí Minh.

Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, khi đi đến Km 04+610 Quốc lộ 20, thuộc ấp Lê L2, xã Q, huyện Thống N, tỉnh Đồng Nai, cùng lúc này có ông Phạm Trung K, sinh năm: 1969 (trú tại: ấp Nguyễn H 2, xã Quang T, huyện Thống N, tỉnh Đồng Nai) điều khiển xe môtô biển số 60U2-xxxx (trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu vượt quá mức quy định là 235,14 mg/100ml) lưu thông cùng chiều phía trước xe ôtô 49C-231.xx chuyển hướng qua đường từ phải sang trái.

Xe ôtô 49C-231.xx do C điều khiển vượt quá tốc độ cho phép (tốc độ trên 74 km/h tại đoạn đường cho phép tốc độ tối đa 70km/h), phát hiện xe môtô 60U2-xxxx ở khoảng cách gần, C lách tránh sang trái để né tránh nhưng không kịp, khiến các chi tiết phía trước (ốp đèn chiếu sáng trước bên phải, cản trước bên phải, đèn tín hiệu bên phải) của xe ôtô 49C-133.xx đã va đụng vào các chi tiết (mặt sau bên trái thanh nâng sau, mặt sau ốp nhựa đuôi xe bên trái) của môtô 60U2- xxxx trên phần đường xe hướng Dầu Giây – Định Quán. Sau va đụng, xe môtô 60U2- xxxx và ông Phạm Trung K ngã văng ra mặt đường, xe môtô 60U2-xxxx bị xe ôtô 49C-231.xx kéo lê trên mặt đường khoảng 10m thì dừng lại.

Hậu quả: Ông Phạm Trung K bị chấn thương sọ não dẫn đến tử vong.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 189/TT/2022 ngày 09/5/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận: “Nguyên nhân chết của ông Phạm Trung K: Chấn thương sọ não gây vỡ lún sọ phức tạp vùng thái dương đỉnh phải, rách màng não. Dập não và thoát tổ chức não ra ngoài; Kết luận khác: nồng độ cồn trong máu là 235,14 mg/100ml.”.

Căn cứ kết quả khám nghiệm xác định hiện trường sau khi xảy ra tai nạn như sau:

Vụ tai nạn xảy ra trên đoạn đường ngoài khu vực đông dân cư, là đoạn đường thẳng có chiều rộng là 14,00m, mặt đường được rải nhựa, có vạch kẻ sơn đứt nét ở giữa tim đường chia đôi mặt đường thành hai chiều đi riêng biệt, mỗi chiều rộng 7,00m. Trên mỗi chiều đường có vạch kẻ sơn đứt nét phân làn màu trắng nét đứt thành 02 làn đường, mỗi làn có chiều rộng là 3,50m.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông theo hướng L đi Dầu Giây được mô tả như sau:

Sau tai nạn, xe ô tô tải 49C-231.xx được ký hiệu là (2) dừng trên mặt đường nhựa đầu xe quay về hướng Dầu Giây, đuôi xe quay về hướng L. Đo từ tâm trục bánh trước vào vạch sơn phân tuyến là 1m40, đo từ tâm trục bánh sau vào vạch sơn phân tuyến là 1m00. Bánh sau bên trái xe (2) để lại vết phanh được ký hiệu (4) đo từ đầu vết phanh đến bánh sau xe bên trái là 31m50, đo đầu vết phanh vào vạch sơn phân tuyến là 10cm. Bánh sau bên phải xe (2) để lại vết phanh được ký hiệu là (5) đo từ đầu vết phanh đến bánh xe bên phải là 5m10, đo từ đầu vết phanh vào vạch kẻ sơn phân tuyến là 20cm.

Sau tai nạn, xe mô tô 60U2-1043 được ký hiệu là (3) nằm nghiêng về bên phải trên mặt đường nhựa, đầu xe quay về hướng Dầu Giây, đuôi xe quay về hướng L, đo từ tâm trục bánh trước vào vạch sơn phân tuyến là 3m50, đo từ tâm trục bánh sau vào vạch sơn phân tuyến là 3m30. Đo từ tâm trục bánh trước xe (3) đến tâm trục bánh trước xe (2) là 50cm. Xe (3) để lại vết cày được kí hiệu (1), đo từ đầu vết cày đến vị trí xe là 17m20, đo đầu vết cày vào vạch sơn phân tuyến là 70cm.

Trong lề trái, lấy trụ điện số 041A được ký hiệu là (A) làm cột mốc, đo từ cột mốc (A) đến tâm trục bánh trước xe (3) là 15m70.

Căn cứ Kết quả khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông xác định:

- Xe ôtô biển số 49C-231.xx: Ốp đèn chiếu sáng phía trước bên phải bị móp méo, biến dạng; cản trước bên phải bị mài mòn; ốp đèn tín hiệu trước bên phải bị móp méo từ ngoài vào trong. Hệ thống điều khiển, phanh hãm, đèn, còi, lốp, gương xe hoạt động bình thường.

- Xe môtô biển số 60U2- xxxx: Đầu tay thắng bên phải bị gãy bung rời vị trí; gương chiếu hậu bên phải bung rời vị trí; ốp nhựa trước bên trái bị bể vỡ; đèn tín hiệu sau bên trái bị bể vỡ; ốp nhựa đèn tín hiệu trước bên trái bị chà xước; gác để chân sau bên phải bị mài mòn; ốp nhựa sau bên phải bị bể vỡ; ốp nhựa đèn tín hiệu trước bên phải bị mài mòn; ốp nhựa đèn tín hiệu trước bị bể vỡ bung rời vị trí. Hệ thống điều khiển, phanh hãm, đèn, còi, lốp, gương xe hoạt động bình thường. Căn cứ kết quả trưng cầu giám định về dấu vết va chạm xác định:

- Tại bản kết luận giám định số: 888/KLGĐ-PC09 ngày 06/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: “Phía trước bên phải xe ôtô biển số 49C-231.xx (dấu vết trượt xước và dính chất màu trắng tại ốp đèn chiếu sáng trước bên phải; dấu vết trượt xước, nứt vỡ, mất sơn màu trắng và dính chất màu vàng tại mặt trước cản trước bên phải; đèn tín hiệu bên phải bị biến dạng cong vênh về sau) có chiều từ trước ra sau, từ trái qua phải; phù hợp với va chạm với phía sau bên trái xe mô tô biển số: 60U2- xxxx (dấu vết trượt xước, dính chất màu trắng tại mặt sau bên trái thanh nâng sau; dấu vết trượt xước, nứt vỡ, mất sơn màu vàng tại mặt sau ốp nhựa đuôi xe bên trái) có chiều từ sau ra trước, từ phải qua trái.

Hệ thống dấu vết trượt xước, mài mòn tại các chi tiết bên phải: cần gương chiếu hậu, đầu tay cầm lái, ốp trước tay lái, yếm chắn gió, bệ gác chân trước, khung gác chân sau, ốp sườn, ốp ống xả cùng thanh nâng sau của xe mô tô biển số: 60U2- xxxx chiều hướng từ phải qua trái; phù hợp với va chạm mặt đường.”

- Tại bản kết luận giám định số: 3268/KL-KTHS ngày 10/6/2022 của Phân viện KHHS tại TP.Hồ Chí Minh kết luận: “Tốc độ của xe ôtô biển số 49C-231.xx khi tham gia tai nạn giao thông đường bộ được xác định theo phương pháp tính toán là từ 74km/h đến 80 km/h.”.

Quá trình điều tra, Mùng Đại C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về vật chứng của vụ án:

- Xe ôtô biển số 49C-231.xx và xe môtô biển số 60U2- xxxx có giấy tờ hợp lệ, nguồn gốc rõ ràng, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thống N đã trao trả cho chủ sở hữu.

- 01 (một) USB bên trong chứa 01 file video kích thước 25,1 Mb, thời lượng 01 phút 00 giây ghi hình lại nội dung, diễn biến quá trình lưu thông của các phương tiện trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn giao thông. Đề nghị chuyển Tòa án là chứng cứ lưu hồ sơ.

- 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số 790134021xxx mang tên Mùng Đại C chuyển tòa xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Mùng Đại C cùng chủ xe ôtô 49C-231.xx đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Phạm Trung K số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng), bao gồm: chi phí ma chay mai táng; tổn thất tinh thần và chi phí sửa chữa xe môtô biển số 60U2- xxxx. Đại diện hợp pháp của nạn nhân Phạm Trung K đã có đơn bãi nại, cam kết không thắc mắc khiếu nại về dân sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 30/2023/HS-ST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai quyết định: Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mùng Đại C 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 10/01/2023, bị cáo Mùng Đại C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Lý do: Bản án sơ thẩm đã xét xử không thấu tình, đạt lý. Do đó, bị cáo C kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn nên xem xét giải quyết. Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Mùng Đại C tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS 2015 là đúng người, đúng tội, tương xứng với tội phạm bị cáo gây ra. Cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử bị cáo mức án 01 (một) năm tù là có căn cứ. Xét thấy mức án của cấp sơ thẩm dành cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ý kiến luật sư bào chữa: Bị cáo chạy xe tốc độ vượt quá mức quy định không đáng kể, không phải là nguyên nhân chính gây ra tai nạn. Nguyên nhân chính gây ra tai nạn là do bị hại chuyển hướng sang đường không an toàn, không nhường đường cho xe chạy trên đường ưu tiên, không bật đèn xi nhan, bị cáo đang say rượu. Về tình tiết tăng nặng bị cáo không có, về tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động bồi thường, gia đình bị hại đã bãi nại cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, là lao động chính trong gia đình, trước giờ luôn chấp hành tốt chính sách tại địa phương. Do vậy đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Mùng Đại C được làm trong thời hạn phù hợp quy định tại các Điều 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Mùng Đại C khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:

Vào khoảng 18 giờ 30 ngày 17/4/2022, tại Km 04+610 Quốc lộ 20, thuộc ấp Lê L 2, xã Quang T, huyện Thống N, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Mùng Đại C (có giấy phép lái xe hạng C số 790134021xxx do Sở Giao thông vận tải tỉnh L cấp ngày 05/7/2018) đã điều khiển ôtô biển số 49C-231.xx chạy quá tốc độ cho phép (tốc độ từ 74 km/h-80km/h tại đoạn đường cho phép tốc độ tối đa 70km/h) đã va đụng với xe môtô biển số 60U2- xxxx do ông Phạm Trung K (đã sử dụng rượu bia, có nồng độ cồn trong máu là 235,14mg/100ml) điều khiển, chạy phía trước cùng chiều đang chuyển hướng qua đường từ phải sang trái. Hậu quả làm ông Phạm Trung K bị chấn thương sọ não dẫn đến tử vong.

Hành vi trên của bị cáo Mùng Đại C đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Mùng Đại C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo: Ngày 10/01/2023, bị cáo Mùng Đại C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp không có tình tiết tăng nặng và có những tình tiết giảm nhẹ là: Có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại và được phía bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt. Về nguyên nhân của vụ tai nạn có một phần lỗi của bị hại, bị hại sử dụng rượu bia (có nồng độ cồn 235,14 mg/100ml), không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông và điều khiển xe mô tô đi cùng chiều phía trước chuyển hướng không quan sát, không đảm bảo an toàn. Mặc dù bị hại vi phạm nồng độ cồn và không đội mũ bảo hiểm là lỗi hành chính tuy nhiên cũng một phần dẫn đến nguyên nhân tử vong của bị hại.

Ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã xem xét, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa bị cáo trình bày: Bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo nộp 01 đơn cứu xét có xác nhận thể hiện bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, trong quá trình tại ngoại bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật tại địa phương chưa có tiền án, tiền sự.

Căn cứ vào các quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự; nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo còn có địa chỉ rõ ràng, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú quản lý, giám sát giáo dục, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển hình phạt tù sang cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc bị cáo chấp hành.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên HĐXX không xem xét.

Đối với ý kiến của Kiểm sát viên có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Đối với ý kiến của luật sư có những tình tiết phù hợp nên Hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mùng Đại C. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 30/2023/HS-ST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Mùng Đại C 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Mùng Đại C cho thị trấn Thạnh M, huyện Đ, tỉnh L, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Về án phí:

- Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm 30/2023/HS-ST ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ