- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "BA Hoàng - Thủy"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 159/2023/DS-ST Ngày: 07-9-2023 V/v “Tranh chấp dân sự - Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Quốc Tiến
2. Bà Nguyễn Thị Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 577/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp dân sự - Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 392/2023/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 443/2023/QĐST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1965
Địa chỉ: Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn:
Bà Trần Thị T, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Tổ G, Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông H có mặt, bà T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Văn H trình bày:
Vào khoảng năm 2016 bà Trần Thị T có vay của ông Trần Văn H số tiền là 10.000.000 đồng, có làm biên nhận, lãi suất thỏa thuận là 10%/tháng, sau khi vay thì bà T có trả cho ông H được khoảng 5 hay 6 tháng tiền lãi (ông H không nhớ chính xác). Đến ngày 17/02/2017 bà T có hỏi vay thêm của ông Trần Văn H số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay là bà T vay để làm vốn mua bán xoài ngày Tết, thời hạn vay là 01 tuần. Tổng số tiền bà T vay của ông H là 30.000.000 đồng, có làm biên nhận nợ số tiền là 30.000.000 đồng, biên nhận vay 10.000.000 đồng đã hủy bỏ và thỏa thuận lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày.
Sau khi vay bà T có trả lãi cho ông H khoảng vài triệu (tiền lãi của số tiền vay 10.000.000 đồng), còn tiền vốn thì không có trả. Thời gian sau bà T với ông H thỏa thuận và ông H đồng ý cho bà T trả phần tiền vốn vay, không trả lãi.
Bà T có trả cho ông H được 11 lần với số tiền 12.500.000 đồng, cụ thể:
Lần 1: ngày 28/8/2018 trả số tiền 1.500.000 đồng.
Lần 2: ngày 20/9/2018 trả số tiền 1.000.000 đồng.
Lần 3: ngày 28/9/2018 trả số tiền 500.000 đồng.
Lần 4: ngày 29/10/2018 trả số tiền 1.000.000 đồng.
Lần 5: ngày 26/12/2018 trả số tiền 2.000.000 đồng.
Lần 6: ngày 201/3/2019 trả số tiền 1.000.000 đồng.
Lần 7: ngày 30/4/2019 trả số tiền 1.000.000 đồng.
Lần 8: ngày 26/8/2019 trả số tiền 1.000.000 đồng.
Lần 9: ngày 29/10/2019 trả số tiền 2.800.000 đồng.
Lần 10: ngày 28/6/2020 trả số tiền 200.000 đồng.
Lần 11: ngày 30/12/2020 trả số tiền 500.000 đồng.
Những lần bà T trả tiền thì không có làm biên nhận. Hiện bà T còn nợ ông H số tiền là 17.500.000 đồng.
Ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị T trả số tiền còn nợ là 17.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tại phiên tòa ông H xác định tính đến thời điểm xét xử thì ngoài số tiền nêu trên thì T không còn nợ ông H bất kỳ khoản tiền nào khác.
Đối với bị đơn là bà Trần Thị T đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có văn bản ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:
Tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp:
- 01 Biên nhận ngày 17/02/2017, được viết tay bằng mực bút bi mùa xanh trên giấy tập học sinh, gồm 01 trang (Bản chính).
- 01 Đơn xác nhận ngày 22/6/2023, có xác nhận của Công an thị trấn M, huyện C.
Tòa án đã thông báo cho bị đơn là bà T biết đồng thời đã triệu tập các đương sự để được tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bị đơn không đến và cũng không có ý kiến gì đối với chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật, xét thấy: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H về việc yêu cầu bà Trần Thị T có nghĩa vụ trả số tiền vốn vay còn nợ là 17.500.000 đồng và không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp dân sự - Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự.
Về thẩm quyền, xét thấy: Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn có địa chỉ tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vụ án nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Đối với bị đơn là bà Trần Thị T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, tại phiên tòa ông H xác định trong vụ này ngoài số tiền trên (17.500.000 đồng) thì ông không tranh chấp số tiền nào khác và số tiền này chỉ liên quan đến đương sự có tên trên, không liên quan đến đương sự nào khác nữa.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy:
Ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị T có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền vốn vay còn nợ là 17.500.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Vào khoảng năm 2016 bà T có vay của ông H số tiền là 10.000.000 đồng, có làm biên nhận nợ (hiện biên nhận đã hủy bỏ do viết lại biên nhận ngày 17/02/2017), thỏa thuận lãi suất là 10%/tháng, sau khi vay bà T có trả tiền lãi cho ông H được vài tháng thì ngưng. Đến ngày 17/02/2017, bà T có vay thêm của ông H số tiền 20.000.000 đồng, có viết biên nhận nợ tổng số tiền là 30.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, mục đích vay là bà T vay để làm vốn mua bán xoài ngày Tết, thời hạn vay là 01 tuần. Việc bà T ký biên nhận vay tiền với ông H là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi vay thì bà T đã trả được cho ông H số tiền là 12.500.000 đồng, còn nợ lại là 17.500.000 đồng và không thực hiện việc tiếp tục trả nợ cho ông H.
Đồng thời, trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án và thu thập chứng cứ, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, thể hiện rõ nội dung vụ việc và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (ông H), cũng như tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn (ông H)nộp kèm theo đơn khởi kiện cho bị đơn (bà T). Tuy nhiên, bị đơn (bà T) vẫn không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không có ý kiến phản bác, yêu cầu phản tố hay yêu cầu gì khác liên quan đến yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn (ông H).
Do đó, việc ông H yêu cầu bà Trần Thị T có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền vốn vay còn nợ là 17.500.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
. Về yêu cầu tính lãi: Do nguyên đơn ông Trần Văn H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí:
- Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn (ông H) nên bị đơn (bà T) phải chịu 875.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Trần Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, ông H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 437.000 đồng theo biên lai số 0000952 ngày 09/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 429, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H.
Buộc bà Trần Thị T có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn H số tiền 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2. Về án phí:
Bà Trần Thị T phải chịu 875.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Trần Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và ông H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 437.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000952 ngày 09/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS HCL; - Toà án Tỉnh; - CC THADS HCL; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên tòa Đã ký Võ Thị Kim Hoa |