vanban.org

Bản án 159/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-

UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, [1] Về hôn nhân: Bà D T S được ly hôn với ông N T B.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Danh Thị Son với ông Nguyễn Thanh Bình"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16-11-2022
V/v Ly hôn giữa bà S và ông B.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Kim Thảo

Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Minh Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng

3 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

242/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2022 và Quyết định Hoãn

phiên tòa số 200/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 giữa các

đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà D T S, sinh ngày 02-6-1997

CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 12-8-2021

Nơi cư trú: Tổ 5, ấp T Đ, thị trấn O E, huyện T S, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 09-5-2022 và

ngày 15-11-2022

2.Bị đơn: Ông N T B, sinh ngày 02-9-1997

CMND số xxxxxxxxx do công an tỉnh An Giang cấp ngày 11-4-2017

Nơi cư trú: Tổ 11, ấp Đ B T, xã V T, huyện C T, tỉnh An Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn, Tờ tự khai ngày 25-01-2022 và Đơn xin xét

xử vắng mặt ngày 15-11-2022, nguyên đơn bà D T S trình bày:

+Về hôn nhân: Bà và ông N T B kết hôn năm 2017, hôn nhân do quen biết,

có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn O E, huyện T S, tỉnh An Giang số 27 ngày 28-02-2018. Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, đến tháng 9/2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống, không hạp nhau. Từ tháng 9/2020 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông B, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xin ly hôn với ông N T B.

+Về con chung: Có 01 con chung tên N D B A, sinh ngày 05-3-2017. Hiện

bà đang nuôi con. Nếu ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con.

+Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không yêu cầu ông Bình cấp dưỡng nuôi con.

+Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

+Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và 2

lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông N T B, nhưng ông B vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ngày 16-9-2022, Tòa án đến nhà ông Bình để ghi lời khai, nhưng ông B vắng mặt tại nhà. Do đó, Tòa án không nhận được ý kiến của ông B.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 16-9-2022, người làm chứng bà Đ T P trình

bày: Bà là mẹ ruột của N T B. B đi làm hồ ở tỉnh Đồng Nai. Bà nhận thông báo Tòa án mời Bình để giải quyết việc ly hôn, bà đều có báo cho B biết, nhưng do B đi làm xa điều kiện về khó khăn. Vợ chồng B không sống gần bà, B sống bên vợ, bà có nghe B nói lại vợ chồng hay cãi vả, anh vợ B có đánh B 1 – 2 lần nên B không sống bên vợ nữa. Bà có khuyên B đoàn tụ với vợ nhưng B không đồng ý. Vợ chồng B không còn sống chung khoảng 2 năm nay. Theo bà vợ chồng B khó đoàn tụ vì đã 2 năm không sống chung, không gặp nhau. Vợ chồng bình có 1 con chung tên N D B A, sinh ngày 05-3-2017, hiện S đang nuôi con

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát

biểu quan điểm như sau:

1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét

xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu

cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung tiếp tục ổn định cho bà S nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn bà D T S, bị đơn ông N T B,

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa; nguyên đơn bà S có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông B vẫn vắng

mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự,

Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với

nguyên đơn bà S và bị đơn ông B.

[2] Về hôn nhân: Bà D T S và ông N T B kết hôn năm 2017, hôn nhân do

quen biết, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn O E,

huyện T S, tỉnh An Giang số 27 ngày 28-02-2018 theo quy định tại Điều 9 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp

luật bảo vệ. Bà S có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa

giải để hàn gắn lại tình cảm giữa bà S và ông B, nhưng ông B nhiều lần vắng

mặt nên không hòa giải được.

Xét thấy: Tháng 9/2020 giữa bà S và ông B phát sinh nhiều mâu thuẫn do

bất đồng trong cuộc sống, không hạp nhau. Từ tháng 9/2020 bà S và ông B sống

ly thân cho đến nay. Từ khi sống ly thân cho đến nay cả bà S và ông B đều

không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Bà P là mẹ ruột của ông B

cho rằng bà S và ông B khó đoàn tụ. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà S và

ông B là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân

không đạt được. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 56 của

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận

yêu cầu của nguyên đơn là bà S được ly hôn với ông B là có căn cứ và phù hợp

với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Bà S và ông B có 01 con chung, hiện bà S đang nuôi con.

Khi ly hôn bà S yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Ông B không có ý kiến.

Xét thấy: Cháu A chỉ hơn 5 tuổi tuổi, hiện bà S nuôi con chu đáo. Đối chiếu

với quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2014. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống cũng như sự phát triển tâm

sinh lý của cháu; Hội đồng xét xử xét thấy nên để cho bà S được tiếp tục nuôi

dưỡng con chung là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà S không yêu cầu ông Bình cấp dưỡng nuôi

con. Ông B không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà S trình bày không có, không yêu cầu

Tòa án giải quyết. Ông B không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem

xét.

[6] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147

của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của

Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban

Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nguyên đơn bà S phải chịu 300.000đ

án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án

phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002992 ngày 03-3-

2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[7] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271

và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn bà S, bị đơn ông B vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;

Các Điều 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-

UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Xử:

[1] Về hôn nhân: Bà D T S được ly hôn với ông N T B.

Giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 28-02-2018 của UBND thị trấn O E,

huyện T S, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung: Bà D T S được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên N D B

A, sinh ngày 05-3-2017.

Bà D T S và các thành viên trong gia đình bà S không được cản trở ông N T

B trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông N T B lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu

đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà S có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của ông B theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà D T S phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn

đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002992 ngày 03-3-2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà D T S, bị đơn ông N T B vắng mặt

tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật

thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều

30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ