- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn K "Giao cấu với trẻ em" - phạm tội giao cấu với trẻ em (điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 115 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 159/2017/HS-ST Ngày 28 - 12 - 2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Minh Thúy
2. Bà Vũ Thị Phượng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 165/2017/HSST ngày 07/12/2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2017/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2017 đối với các bị cáo:
Dƣơng Văn K, sinh năm 1998 tại Kiên Giang; trú tại: Ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Ấp P, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị D.
Bị tạm giữ ngày 27/9/2017, bị tạm giam ngày 30/9/2017 (có mặt).
- Bị hại: Phạm Thị H, sinh ngày 13/6/2002.
Trú tại: Tổ 4, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1972 và bà Lê Thị D, sinh năm 1975; trú tại: Tổ 4, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu - Là cha mẹ đẻ của bị hại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Văn K và Phạm Thị H có quan hệ tình cảm nam nữ từ tháng 7/2017. Vào khoảng 14 giờ một ngày giữa tháng 9/2017, K hẹn H đi chơi rồi cùng nhau vào nhà nghỉ KN ở ấp P, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thuê phòng số 13 để nghỉ. K và H ngồi nói chuyện với nhau một lúc thì K đứng dậy đóng cửa lại để thực hiện hành vi giao cấu với H, sau đó cả hai đi ngủ. Khoảng một tiếng sau, K tiếp tục thực hiện hành vi giao cấu lần thứ 2 với H rồi cả hai tự mặc quần áo lại và nằm chơi, khoảng 30 phút sau thì trả phòng nghỉ đi về.
Ngày 26/9/2017, bà Lê Thị D là mẹ đẻ của H phát hiện sự việc đã làm đơn tố cáo hành vi của K.
Ngày 27/9/2017, K đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Thành đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 291/TD ngày 29/9/2017 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kết luận: Không có dấu sây sát da hay bầm tím ở vùng bẹn đùi hai bên. Màng trinh rách cũ ở vị trí 06 giờ. Tìm không thấy tinh trùng trong âm đạo.
Tại bản cáo trạng số 01/KSĐT-TA ngày 07 tháng 12 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã truy tố Dương Văn K về tội “ Giao cấu với trẻ em” theo điểm a khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự.
Tại tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo K từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Bị cáo K không có ý kiến gì về luận tội của kiểm sát viên. Bị cáo K nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về tố tụng:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố; Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo K phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận: Bị cáo K là người đã thành niên nhưng do có quan hệ tình cảm và được sự đồng ý của Phạm Thị H nên vào buổi chiều một ngày giữa tháng 9/2017, tại nhà nghỉ KN, K đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu với H là người trên 13 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi. Do đó hành vi của bị cáo K thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với trẻ em” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng Pháp luật.
3 Hành vi phạm tội của bị cáo K rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý, gây tác hại cho sự phát triển đạo đức, ảnh hưởng đến danh dự, nhân cách và phẩm giá của bị hại H ở hiện tại cũng như tương lai sau này. Do đó, đối với bị cáo K cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
4 Về tình tiết tăng nặng: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết cần áp dụng điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
5 Về bồi thường thiệt hại: Gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
6 Về án phí: Bị cáo K phải chịu án phí theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.
1. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 115; điểm b, điểm p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Văn K 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2017.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Dương Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Tân Thành; - Công an huyện Tân Thành; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - Phòng PV27 công an tỉnh BR-VT; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Ly THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |