vanban.org

Bản án 158/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 05/12/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/12/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2025/HS-PT
Ngày: 05/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.

Các thẩm phán: Bà Hà Thị Thanh Hương – Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lang Văn Bảo – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 151/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Võ Thành C do có kháng cáo của bị cáo Võ Thành C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2025/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Nghệ An) đối với bị cáo:

Võ Thành C, sinh ngày 05 tháng 02 năm 2000 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn M (đã chết) và bà Hồ Thị T (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/02/2025; có mặt.

- Bị hại:

- Anh Trần Văn N, sinh năm 1996; nơi cư trú: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã V, tỉnh Nghệ An) - đã chết.

- Anh Phạm Tuấn T1, sinh năm 2006; nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã Đ, tỉnh Nghệ An) - Vắng mặt.

- Người đại diện cho bị hại anh Trần Văn N:

+ Ông Trần Văn C1, sinh năm 1969; địa chỉ: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã V, tỉnh Nghệ An) - Vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nay là xã V, tỉnh Nghệ An) - Vắng mặt.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xóm M, xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An (nay là xã B, tỉnh Nghệ An)

- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 ngày 16/12/2024, Võ Thành C cùng anh Trần Văn N và anh Phạm Tuấn T1 cùng nhau ăn tối và uống rượu tại quán ăn T2 thuộc thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, C cùng anh N và anh T1 rủ nhau đi hát Karaoke do C biết đường đi nên đã lấy chìa khoá xe mô tô từ anh N rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu trắng đỏ đen mang biển số 37D1- 77x.xx chở anh N và anh T1 đến quán K1 tại thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tại đây, C tiếp tục uống khoảng 02 lon bia. Đến khoảng 00 giờ 30 ngày 17/12/2024, C cùng anh N và anh T1 ra về. C điều khiển xe mô tô chở anh N ngồi giữa và anh T1 ngồi sau cùng rồi đi về V theo đường Quốc lộ 46. Khi đi đến Km 26+200m Quốc lộ D, thuộc địa phận xóm L, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An là đoạn đường cong cua, nhưng do C không chú ý quan sát nên không giảm tốc độ để ôm cua mà đi thẳng. Khi gần đến lề đường thì xe mô tô do C điều khiển đã bị trượt ngã văng vào lề đường làm C cùng anh N và anh T1 bị ngã xuống đường gây chấn thương nặng. Sau đó, người dân đã phát hiện rồi gọi xe cứu thương chở C, N và T1 đến bệnh viện Đ cấp cứu và điều trị. Đến ngày 18/12/2024, Trần Văn N đã tử vong.

Tại phiếu xét nghiệm hồi 04 giờ 54 ngày 17/12/2024 của Bệnh viện Đ xác định nồng độ cồn trong máu của Võ Thành C tại thời điểm kiểm tra là 31,5 mmol/L (tương ứng 145,152 mg/100ml máu).

Tại bản Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 04/KLTTHS-TTPY ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Trung tâm pháp y tỉnh N xác định nguyên nhân chết của anh Trần Văn N qua hồ sơ bệnh án như sau: “Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Nghệ An cung cấp, nạn nhân Trần Văn N, sinh năm 1996, trú tại xóm D, xã N, huyện N, Nghệ An tử vong do suy tuần hoàn, suy hô hấp/mất máu cấp; Đa chấn thương; Chân thương bụng kín”.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 147/KLTTCT-TTPY ngày 29/4/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Tuấn T1 tại thời điểm giám định là: 78 % (Bảy mươi tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư./.”

Tại bản Kết luận giám định số 21/KL-KTHS(DVCH) ngày 23/01/2025 của phòng K2 Công an tỉnh N kết luận:

“1. Ngay khi xảy ra tai nạn, xe mô tô mang biển số 37D1-77x.xx di chuyển ở phần đường phía Nam đường Quốc lộ 46 theo hướng từ huyện T đi thành phố V.

2. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô mang biển số 37D1-77x.xx với phương tiện giao thông khác.

3. Không xác định được tốc độ di chuyển của xe mô tô mang biển số 37D1-77x.xx ngay khi xảy ra tai nạn”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm 33/2025/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Nghệ An) đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Võ Thành C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Thành C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Đồng thời, Bản án còn tuyên xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 04/7/2025, bị cáo Võ Thành C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thành C giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thành C giữ nguyên nội dung quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo;

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Thành C 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Bị cáo Võ Thành C không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Thủ tục tố tụng: Bị cáo Võ Thành C nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nội dung đơn kháng cáo đúng quy định của pháp luật nên kháng cáo hợp lệ nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý và giải quyết vụ án.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thành C đã thừa nhận bản án sơ thẩm đã kết luận hành vi phạm tội của bị cáo là đúng với hành vi của mình thực hiện. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 00 giờ 50 phút ngày 17/12/2024, tại Km 26+200m Quốc lộ D, thuộc địa phận xóm L, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An Võ Thành C (có giấy phép lái xe theo quy định) có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu trắng đỏ đen mang biển số 37D1- 77x.xx chở theo phía sau là anh Trần Văn N ngồi giữa và anh Phạm Tuấn T1 ngồi sau cùng di chuyển trên đường Quốc lộ 46 theo hướng từ N đi thành phố V. Khi đi đến đoạn đường cua tại K+200m Quốc lộ D, thuộc địa phận xóm L, xã K Võ Thành C không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không điều khiển xe chuyển hướng theo đường cua mà đi thẳng, khi đến gần lề đường thì xe mô tô bị trượt ngã. Hậu quả vụ tai nạn làm anh Trần Văn N tử vong, anh Phạm Tuấn T1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 78%. Đồng thời, Võ Thành C điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn trong tình trạng sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định. Như vậy, hành vi của bị cáo vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ; điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019 NĐ-CP ngày 30/12/2019; khoản 1 Điều 30 Luật Giao thông đường bộ; Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Nghệ An) đã xử Võ Thành C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn giao thông, gây thiệt hại về tính mạng và sức khỏe cho người khác nên phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét kháng cáo của các bị cáo:

Cấp sơ thẩm đã xem xét, ghi nhận đầy đủ các tình tiết trong vụ án, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, cụ thể: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bố đẻ Võ Văn M được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng và xử phạt bị cáo Võ Thành C 03 (ba) năm tù – mức hình phạt tù khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp, có sự hài hòa giữa nghiêm trị và khoan hồng của pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới, vì vậy không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, mà cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

Án phí:

Bị cáo Võ Thành C kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Thành C, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Nghệ An) về hình phạt đối với bị cáo Võ Thành C.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Thành C 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Võ Thành C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

Cỡ chữ