vanban.org

Bản án 158/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 25/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh và hình phạt

Căn c điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự: Tuyên bố bị cáo L Văn T phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2024/HSST
Ngày 25-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà L Mai iêng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông L Văn Quốc và ông Lường Văn Duôi.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng- Thư ký T a án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Bích Nguyệt- Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 158/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2024/QĐ ST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1987 tại huyện TC, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản Púng, xã PT, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Nhân, sinh năm 1931 và bà Lò Thị Uôi, sinh năm 1934; bị cáo có vợ là Lường Thị Thiêm, sinh năm 1986 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án số 72/2019/HSST ngày 13/6/2019 bị Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xử phạt 07 (bảy) tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Tại Quyết định số 38/QĐ-TA ngày 05/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành 16 (mười sáu) tháng; bị bắt, tạm gi , tạm giam ngày 25 tháng 3 năm 2024. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 25/3/2024, Tổ công tác Công an huyện TC, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực Thôn 1, xã Tông Lạnh, huyện TC, phát hiện bắt quả tang L Văn T có hành vi cất gi trái phép chất ma túy

V t ch ng thu gi : 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có ch a bột cục màu trắng hồng trộn lẫn nghi là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn (theo L Văn T khai là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn).

Hồi 19 giờ 00 phút, ngày 25/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thu n Châu đ tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh v t ch ng và lấy mẫu giám định, kết quả: số chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn trong gói nilon màu trắng, có khối lượng 0,20 gam. Trích toàn bộ 0,20 gam, ký hiệu T1 gửi giám định.

Kết lu n giám định số: 779/KL- KTHS ngày 28/3/2024 của Ph ng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La kết lu n: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu gi 0,20 gam, loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đ sử dụng hết trong quá trình giám định

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo L Văn T đ khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 25/3/2024, L Văn T đi bộ một mình từ nhà ở bản Púng, xã PT, huyện TC đến xã Chiềng Pấc, huyện TC, tỉnh Sơn La với mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng. Khi T đi đến khu vực bản Mảy, xã Chiềng Pấc, huyện TC, tỉnh Sơn La, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc thái (T không biết tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói b ng nilon màu trắng bên trong có Heroine và hồng phiến trộn lẫn với giá 200 000 đồng Sau khi mua được ma túy, T cất giấu gói ma túy vừa mua được ở túi quần đ ng sau bên phải đang mặc, rồi đi bộ về nhà. Khi T đi đến khu vực Thôn 1, xã Tông Lạnh, huyện TC thì bị tổ công tác Công an huyện Thu n Châu phát hiện, bắt quả tang và thu gi c ng v t ch ng

Tại Cáo trạng số: 113/CT- VKSTC, ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC truy tố bị cáo L Văn T về tội Tàng tr trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo L Văn T đ khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đ truy tố và thừa nh n bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng tr trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội

Trong phần tranh lu n, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC gi quyền công tố tại phiên toà trình bày lời lu n tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, m c độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đ đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo L Văn T phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự:

ử phạt bị cáo L Văn T từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với bị cáo

Về v t ch ng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Lu t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy: một mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L Văn T.

Tại phiên t a, bị cáo L Văn T thừa nh n hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh lu n gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Ngày 25/3/2024 bị cáo L Văn T đ có hành vi cất gi trái phép 0,20 gam chất ma túy (loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetymorphine trộn lẫn) trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại Thôn 1, x Tông Lạnh, huyện Thu n Châu, tỉnh Sơn La

Tại phiên t a bị cáo gi nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra ph hợp với kết quả điều tra, ph hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang l p ngày 25/3/2024; Biên bản niêm phong v t ch ng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nh n đối tượng giám định; Kết lu n giám định số: 779/KL- KTHS ngày 28/3/2024 của Ph ng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người ch ng kiến

Từ các căn c trên có đủ cơ sở kết lu n hành vi cất gi trái phép 0,20 gam chất ma túy (loại Methamphetamine và Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetymorphine trộn lẫn) trong người với mục đích để sử dụng của bị cáo Lò Văn T đ phạm vào tội Tàng tr trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ lu t Hình sự

3 Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho x hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất tr t tự an ninh x hội tại địa phương Do đó cần có m c hình phạt nghiêm khắc nh m răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên t a bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố của bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án đ được xóa án tích, có 01 tiền sự đ được xóa.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do v y Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

5 Về nguồn gốc số ma túy bị thu gi : Bị cáo L Văn T khai mua của một người đàn ông dân tộc thái không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản Mảy, xã Chiềng Pấc, huyện TC, tỉnh Sơn La vào ngày 25/3/2024. Ngoài lời khai của bị cáo không c n ch ng c nào khác ch ng minh Do đó, buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu gi .

[6 V t ch ng vụ án: Đối với 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu là công cụ phương tiện bị cáo d ng vào việc phạm tội, v t không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy căn c điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Lu t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự

[7 Về án phí: Bị cáo L Văn T thuộc diện hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở x có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên t a bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L Văn T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1 Về tội danh và hình phạt

Căn c điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự:

Tuyên bố bị cáo L Văn T phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy

ử phạt bị cáo L Văn T 22 (hai mươi hai) tháng tù Thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày 25/3/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo

2 Về v t ch ng vụ án: Căn c điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Lu t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: V t ch ng nh p kho vụ L Văn T - TTTPCMT, bắt ngày 25/3/2024. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 067212, đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ ch ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn La. Sau đó dán băng dính màu trắng đè lên giấy niêm phong và các mép dán giáp của phong bì. Bên trong có: một mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu.

(Theo biên bản giao nh n v t ch ng ngày 09/7/2024 gi a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).

3 Về án phí: Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho cáo L Văn T.

4 Về quyền kháng cáo: Căn c Điều 331, Điều 333 Bộ lu t Tố tụng hình sự: Bị cáo L Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ