vanban.org

Bản án 158/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 04/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: bị cáo Vi Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 158/2023/HS-ST
Ngày: 04 – 07 - 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Bình

Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Thạch Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Dương Bá Thành Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 07 năm 2023, tại điểm cầu xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 06 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2023/QĐXXST-HS ngày 12/06/2023 đối với bị cáo:

VI VĂN T – sinh năm: 1996; HKTT: Thôn X, xã X, Thường Xuân, Thanh Hóa; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; con ông Vi Văn T và bà Lữ Thị H; TATS: Theo danh chỉ bản số 296 ngày 06/04/2023 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ 31/3/2023, tạm giam từ ngày 06/4/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 02 CATP Hà Nội. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Vi Văn T - sinh năm 1960

HKTT: Thôn X, xã X, Thường Xuân, Thanh Hóa. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 31/3/2023, Tổ công tác Công an phường Đức Giang làm nhiệm vụ tại khu vực đường Đặng Vũ Hỷ, phường Đức Giang, quận Long Biên, TP Hà Nội phát hiện 01 người đàn ông điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 36M1-181.84 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra xác định người đàn ông có họ tên đầy đủ là Vi Văn T (sinh năm 1996; HKTT: thôn X, xã X, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong bàn tay phải T có 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, Vi Văn T tự khai nhận chất bột màu trắng bên trong gói giấy là ma túy Heroine của mình, vừa mua mang theo để sử dụng cho bản thân. Lực lượng công an đã tạm giữ tang vật và đưa đối tượng về trụ sở để điều tra làm rõ.

Vật chứng tạm giữ của Vi Văn T: 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 36M1-181.84 kèm đăng ký xe; 01 căn cước công dân, 01 ví da màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen kèm sim.

Tại Bản kết luận giám định số 1308 ngày 7/4/2023 của phòng Kĩ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc có khối lượng 0,130 gam là ma túy loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Vi Văn T khai nhận: Tại Cơ quan điều tra, Vi Văn T khai nhận nội dung sự việc như trên và khai: Bản thân T thường xuyên sử dụng ma túy Heroine từ đầu năm 2023. Khoảng 09 giờ ngày 31/3/2023, Vi Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 36M1-181.84 đi đến khu vực Từ Sơn – Bắc Ninh tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp và hỏi mua ma túy của người đàn ông ông không quen biết, người đàn ông đồng ý bảo T đi theo ông ta. Người đàn ông điều khiển xe máy kiểu dáng Honda Lead (biển kiểm soát dán băng dính màu vàng nên T không biết), T điều khiển xe máy đi theo sau ông ta. Khi đi đến khu vực đường tàu ngõ 2 Đặng Vũ Hỷ - P Đức Giang – Long Biên – Hà Nội người đàn ông hỏi T mua bao nhiêu tiền, T nói mua 200.000đ ma túy heroin và đưa người này số tiền 200.000 đồng. Người này cầm tiền đi đâu không rõ một lúc rồi quay trở lại đưa cho T 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa ma túy Heroine. T cầm gói giấy chứa ma túy tại tay phải rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Sau đó, T bị lực lượng công an kiểm tra hành chính, phát hiện và thu giữ số ma túy trên.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của T cho kết quả dương tính với chất ma túy.

Cáo trạng số: 131/CT-VKS ngày 30 - 05 - 2023 của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Vi Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Vi Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo vi phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS.

Về hìnhphạt: Đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 14 đến 17 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 0,130 gam ma túy loại Heroine (Phòng PC09 thu mẫu 0,022 gam để giám định).

- Đề nghị cho thi hành trả lại bị cáo Vi Văn T 01 đăng ký xe, 01 căn cước công dân mang tên Vi Văn T, 01 ví da màu đen, 01 điện thoại Oppo nhưng cho tạm giữ lại chiếc điện thoại trên để đảm bảo công tác thi hành án.

- Đề nghị cho thi hành trả lại ông Vi Văn T 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen mang biển kiểm soát: 36M1-181.84, số khung: 3740LY032890, số máy: E32VE097592

Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật-tài liệu, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 15 phút ngày 31/3/2023, tại khu vực đường Đặng Vũ Hỷ, phường Đức Giang, quận Long Biên, TP Hà Nội, bị cáo Vi Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,130 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân, bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Vi Văn T đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã cố ý xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy được Bộ luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng TNHS:

Nhân thân của bị cáo không có tiền án, tiền sự. Vì vậy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Trong khi Đảng và Nhà nước ta đang kiên quyết đấu tranh để loại trừ tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo xét về tính chất, mức độ và nhân thân bị cáo thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

- Về xử lý vật chứng:

- Cho tịch thu, tiêu hủy 0,130 gam ma túy loại Heroine (Phòng PC09 thu mẫu 0,022 gam để giám định) là vật Nhà nước cấm lưu hành.

- Cho thi hành trả lại bị cáo Vi Văn T 01 đăng ký xe, 01 căn cước công dân mang tên Vi Văn T, 01 ví da màu đen, 01 điện thoại Oppo do không liên quan đến tội phạm nhưng cho tạm giữ lại chiếc điện thoại trên để đảm bảo công tác thi hành án.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen mang biển kiểm soát: 36M1-181.84, số khung: 3740LY032890, số máy: E32VE097592 đăng ký chính chủ tên Vi Văn T. Quá trình điều tra xác định khoảng tháng 4/2020 ông Vi Văn T là bố đẻ của Vi Văn T đã cho T số tiền 27.000.000đ (hai mươi bẩy triệu đồng) mua chiếc xe máy trên và đăng ký xe chính chủ tên T để sử dụng chung cho gia đình. Việc T sử dụng chiếc xe máy trên đi mua ma túy ông T không biết. Ông T đề nghị xin lại chiếc xe trên để làm phương tiện di chuyển. Vì vây, cho thi hành trả lại ông T.

Đại diện VKSND quận Long Biên đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.

- Về vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T ở khu vực ngõ 2 Đặng Vũ Hỷ, P. Đức Giang, Long Biên, Hà Nội, T khai lần đầu gặp nên không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Vì vậy cơ quan điều tra không có điều kiện làm rõ.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: bị cáo Vi Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Cho tịch thu, tiêu hủy 0,130 gam ma túy loại Heroine (Phòng PC09 thu mẫu 0,022 gam để giám định).

- Cho thi hành trả lại bị cáo Vi Văn T 01 đăng ký xe, 01 căn cước công dân mang tên Vi Văn T, 01 ví da màu đen, 01 điện thoại Oppo nhưng cho tạm giữ lại chiếc điện thoại trên để đảm bảo công tác thi hành án.

- Cho thi hành trả lại ông Vi Văn T chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen mang biển kiểm soát: 36M1-181.84, số khung: 3740LY032890, số máy: E32VE097592.

(Hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/05/2023).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngàynhậnđượctốngđạtbảnán ./.

Cỡ chữ