- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh S - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:158/2022/HSST Ngày: 14/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Thu Thuỷ
- Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Tôn.
Ông Trần Xuân Hoàn.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Cao Văn Chiến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Đào Việt Yên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2022 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 143/2022/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162 ngày 01/12/2022 đối với bị cáo:
Trần Văn S, sinh năm 1990 tại Hà Nội; trú tại: thôn HG, xã PC, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; trình độ văn hoá lớp: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông: Trần Văn T và bà Khổng Thị N; có vợ là: Nguyễn Thị T; vợ chồng bị cáo có hai con chung (con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2020).
Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 11/11/2020 có hành vi đánh bạc đến ngày 09/4/2021 bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ (bản án số 50/HSST ngày 09/4/2021).
Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã Phú Cường, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1977;
Trú tại: TDP C, phường HT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1988;
Trú tại: TDP T, phường ĐC, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
3. Anh Bàn Văn H, sinh năm 1995;
Trú tại: Thôn 1 MNu, xã TT, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
4. Anh Bùi Trọng Q, sinh năm 1986;
Trú tại: Thôn TNĐ, xã ANh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
5. Anh Trương Nho Sg, sinh năm 1994;
Trú tại: Khu TX, thị trấn HL, huyện HL, tỉnh Thanh Hóa.
6. Anh Nguyễn Huy T, sinh năm 1989;
Trú tại: Xóm 5, xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An.
7. Anh Trần Đình Đ, sinh năm 1987;
Trú tại: Thôn CB, xã PX, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
*Người chứng kiến:
1. Anh Lê Bá L, sinh năm 1983;
Trú tại: TDP HT, phường ĐT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
2. Anh Lê Văn M, sinh năm 1984;
Trú tại: Xóm LC1, xã NẤ, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.
(Có mặt anh D, anh H, anh H1, anh S, anh T. Vắng mặt anh Q, anh Đ, anh L, anh M)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 07/6/2022, Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên nhân được tin báo của nhân dân, tố giác tại khu nhà xưởng Công ty Jungdo thuộc tổ dân phố HT, phường ĐT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đang có một số đối tượng đánh bạc dưới hình thức đánh sóc đĩa được thua bằng tiền Việt Nam đồng. Khi tổ công tác đến đã phát hiện được các đối tượng: Trần Văn S (sinh năm 1977; trú tại: thôn HG, xã PC, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), Nguyễn Tiến D (sinh năm 1977; trú tại: tổ dân phố C, phường HT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên), Nguyễn Văn H (sinh năm 1988; trú tại: tổ dân phố T, phường ĐC, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên), Bàn Văn H1(sinh năm 1995; trú tại: thôn MN, xã TT, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang), Bùi Trọng Q (sinh năm 1986; trú tại: thôn TNĐ, xã AN, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình), Trương Nho S (sinh năm 1994; trú tại: khu TX, thị trấn HL, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá), Nguyễn Huy T (sinh năm 1989; trú tại: xóm 5, xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An) và Trần Đình Đ (sinh năm 1987; trú tại: thôn CB, xã PX, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc) đang cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Xóc đĩa” được thua bằng tiền Việt Nam đồng. Vật chứng thu giữ gồm: thu trên chiếu bạc 1.460.000đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 04 quân vị hình tròn (một mặt màu vàng, một mặt màu trắng được làm từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long); 01 bát sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng. Tạm giữ trên người của Nguyễn Huy Tsố tiền 500.000đồng và Nguyễn Văn H số tiền 200.000đồng.
Quá trình điều tra Trần Văn S và các đối tượng D, H, H1, Q, S, T và Đ khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 07/06/2022 các đối tượng Nguyễn Tiến D, Trần Văn S, Nguyễn Văn H, Bàn Văn H1, Bùi Trọng Q, Trương Nho S, Nguyễn Huy T và Trần Đình Đ đi ăn cơm về đến phòng ngủ ở khu của Công ty Jungdo thuộc tổ dân phố HT, phường ĐT, thành phố Phổ Yên, sau đó các đối tượng cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Xóc đĩa” được thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đồng. Thành là người cắt vỏ bao thuốc lá Thăng Long làm 04 quân vị, Dật là người lấy bát, đĩa để sử dụng làm công cụ đánh bạc. Khi đánh bạc D là người sóc cái. Về hình thức đánh bạc được các đối tượng quy ước như sau: Có 04 quân vị (một mặt màu trắng, một mặt màu vàng) được làm từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long, sau đó cho vào một chiếc bát, úp chiếc đĩa để xóc. Người xóc cái sóc đều các quân vị, sau khi xúc đều người xóc cái đặt bát đĩa bên trong chứa quân vị xuống chiếu bạc. Những người tham gia đánh bạc sẽ đặt cược tiền vào một trong hai cửa chẵn hoặc cửa lẻ, khi những tham gia đánh bạc đã đặt cược tiền, người xóc cái mở bát nếu trên đĩa quân vị là chẵn (tức là hai mặt vàng, hai mặt trắng hoặc bốn mặt trắng, bốn mặt vàng) thì người đặt cược tiền vào cửa chẵn thắng. Nếu trên đĩa quân vị là lẻ (tức là một mặt vàng, ba mặt trắng, hoặc mặt trắng, ba mặt vàng) thì người đặt tiền ở cửa lẻ thắng. Người thắng sẽ được người xóc cái trả cho số tiền bằng số tiền mà họ đã đặt cược, người thua sẽ mất số tiền đã sử dụng để đặt cược. Người xóc cái trả tiền cho người thắng và lấy tiền của người thua, nếu số tiền của người thắng ít hơn người thua thì người xóc cái được hưởng, nếu số tiền của người thắng nhiều hơn số tiền của người thu thì người xóc cái phải bù bằng tiền của mình. Quy định mỗi ván đặt cược tối thiểu là 10.000đồng và cao nhất là 50.000đồng. Quá trình đánh bạc S khai sử dụng 180.000đồng, H khai sử dụng 270.000đồng, Q khai sử dụng 110.000đồng, D khai sử dụng khoảng 100.000đồng, T khai sử dụng 250.000đồng, Đ khai sử dụng 100.000đồng, H1 khai sử dụng 110.000đồng và S khai sử dụng 340.000đồng để đánh bạc. Đối với số tiền 700.000đồng tạm giữ trên người của T và H không sử dụng để đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến 12 giờ 30 cùng ngày thì bị Công an thành phố Phổ Yên phát hiện bắt giữ và thu giữ vật chứng như nêu ở trên.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo Trần Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Bị cáo khai ngày 07/6/2022 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Xóc đĩa” được thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng các đối tượng Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn H, Bàn Văn H1, Bùi Trọng Q, Trương Nho S, Nguyễn Huy T và Trần Đình Đ tại khu vực phòng ngủ của Công ty Jungdo thuộc tổ dân phố H T, phường ĐT, thành phố Phổ Yên, thời gian đánh từ 12 giờ đến 12 giờ 30 cùng ngày thì bị Công an bắt giữ, vật chứng thu trên chiếu bạc gồm 1.460.000đồng các đối tượng dùng để đánh bạc, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ. Khi đánh bạc bị cáo đã sử dụng 340.000đồng để đánh bạc.
Bản cáo trạng số 156/CT-VKSPY ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Văn S về tội: “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần thẩm vấn, đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Trần Văn S phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Trần Văn S từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng;Về hình phạt bổ sung: Áp dụng áp khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo S từ 10.000.000đồng đến 12.000.000đồng để nộp ngân sách Nhà nước; Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 1.460.000đồng (một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng). Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng bìa cattong được niêm phong ký hiệu “V” bên trong chứa 04 quân vị hình tròn một mặt vàng, một mặt trắng được làm từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 bát sứ màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng thu trên chiếu bạc.
Phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì, nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát. Nói lời nói sau cùng: bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất, xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng: Tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh anh Q, anh Đ và những người làm chứng vắng mặt. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, định tội đối với bị cáo. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự Toà án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc, vật chứng thu giữ được. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 07/6/2022, tại khu vực nhà xưởng Công ty Jungdo thuộc tổ dân phố HT, phường ĐT, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Trần Văn S đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Xóc đĩa” được thua bằng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng với Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn H, Bàn Văn H1, Bùi Trọng Q, Trương Nho S, Nguyễn Huy T và Trần Đình Đ thì bị tổ công tác Công an thành phố Phổ Yên phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ trên chiếu bạc 1.460.000đ (Một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng); 04 quân vị làm bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long (một mặt màu vàng, một mặt màu trắng); 01 bát sứ, 01 đĩa sứ các đối tượng sử dụng để đánh bạc. Mặc dù số tiền thu giữ trên chiếu bạc dưới 5.000.000đồng (năm triệu đồng), xong ngày 04/9/2021 Trần Văn S đã bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” (Tại bản án số 50/HSST ngày 09/4/2021), chưa được xoá án tích. Do vậy hành vi đánh bạc của Trần Văn S vào ngày 07/6/2022 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Đối với các đối tượng: Nguyễn Tiến D, Nguyễn Văn H, Bàn Văn H1, Bùi Trọng Q, Trương Nho S, Nguyễn Huy T và Trần Đình Đ quá trình điều tra, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định các đối tượng này đều không có có tiền án, tiền sự, có hành vi “Đánh bạc” vào ngày 07/6/2022, xong số tiền đánh bạc xác định dưới 5.000.000đồng, nên hành vi của D, H, H1, Q, S, T và Đ không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Cơ quan Công an thành phố Phổ Yên đã ra Quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Văn S về tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung Điều 321 quy định:
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., nhưng... đã bị kết án về tội này... chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
. Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, xong hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, cờ bạc là tệ nạn xã hội, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, gia đình của bị cáo mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Do đó việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử bằng pháp luật hình sự là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
. Về nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội của bị cáo: Do bị cáo hám lời, muốn kiếm tiền một cách nhàn hạ, bất chính nên dẫn bị cáo đến việc phạm tội.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt: Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12 rồi đi làm Công nhân do muốn kiếm tiền một cách nhàn hạ mà không phải từ lao động chân chính nên đã dẫn đến hành vi phạm tội. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trước Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có chú ruột Trần Văn Thảo là Liệt sỹ (hiện tại gia đình bị cáo đang là người thờ cúng Liệt sỹ), bố mẹ đẻ của bị cáo đều là quân nhân từng tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ Quốc tế theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ và đều được hưởng chế độ người có công với cách mạng, nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử thấy: Số tiền thu trên chiếu bạc mà bị cáo Sỹ và các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 1.460.000đồng (một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) dưới 5.000.000đồng (năm triệu đồng) xong bị cáo đã có một tiền án về tội “Đánh bạc”, xác định là tình tiết định tội đối với bị cáo. Theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 “Sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo quy định: “Đối với người bị kết án mà khi định tội đã sử dụng tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật” hoặc “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo”. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc không đáng kể. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự: Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, lời thỉnh cầu của bị cáo, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương mà không cần phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội vẫn có thể cải tạo bị cáo thành người tốt và làm ăn lương thiện được.
Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tại phiên tòa là phù hợp, được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội nhằm mục đích vụ lợi nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nhất định để nộp ngân sách Nhà nước.
. Về vật chứng của vụ án: Số tiền 1.460.000đồng thu trên chiếu bạc được xác định là tiền do bị cáo S và các đối tượng D, H, H1, Q, S, T và Đ dùng vào việc phạm tội là tiền thu lợi bất chính mà có, nay cần tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước.
- 01 thùng bìa cattong được niêm phong ký hiệu “V” bên trong có chứa 04 quân vị hình tròn, một mặt vàng, một mặt trắng được làm từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 bát sứ màu trắng thu trên chiếu bạc, 01 đĩa sứ màu trắng thu trên chiếu bạc. Đây là dụng cụ bị cáo S và các đối tượng dùng vào việc đánh bạc là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng, nay cần tịch thu để tiêu huỷ.
- Số tiền 500.000đồng thu giữ của Nguyễn Huy T và 200.000đồng thu giữ của Nguyễn Văn H. Quá trình điều tra xác định các đối tượng không sử dụng vào việc đánh bạc nên ngày 08/10/2022 cơ q uan điều tra đã trả lại cho anh T và anh H quản lý, sử dụng là phù hợp, nên không đặt ra việc xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị Quyết 326/ 2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331,333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt chính:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Trần Văn S 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn S cho UBND xã PC, huyện SS, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Trần Văn S phải nộp 10.000.000đồng (mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính 1.460.000đồng (một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).
Tịch thu tiêu huỷ: 01 thùng bìa cattong được niêm phong ký hiệu “V” bên trong có chứa 04 quân vị hình tròn, một mặt vàng, một mặt trắng được làm từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 bát sứ màu trắng thu trên chiếu bạc, 01 đĩa sứ màu trắng thu trên chiếu bạc.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 25 tháng 10 năm 2022 và Ủy nhiệm chi số 291 ngày 26 tháng 10 năm 2022).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn S phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKDND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Phổ Yên; - Công an thành phố Phổ Yên; - Thi hành án hs; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Chi cục THADS thành phố Phổ Yên; - UBND xã PC; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký tên) Hà Thị Thu Thủy |