- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Đức - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 158 /2022/HS-ST Ngày 28/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bắc; ông Nguyễn Như Điệu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tá Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 179/2022/TLST-HS ngày 15/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2022/QĐXXST-HS ngày 15/7/2022 tại hai điểm cầu là Hội trường xét xử tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và phòng xét xử tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1977 ( tên gọi khác: Không)
Nơi đăng ký HKTT: Khu phố Tư, phường Đồng Kỵ, thành phố TS, tỉnh BN;
Chỗ ở: Khu phố Xuân Đài, phường Đình Bảng, thành phố TS, tỉnh BN.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị G (đã chết). Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con lớn nhất. Có chồng là Nguyễn Văn P, sinh năm 1978; Có 05 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 143 ngày 22/8/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (cũ) xử phạt 12 tháng tù về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 điều 254 BLHS năm 1999. Ngày 09/10/2017 Đ chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2021 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1978; Trú tại: Khu phố Xuân Đài, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ( Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 30/03/2022 tại nhà nghỉ Minh Ngọc ở khu phố Xuân Đài, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh của Nguyễn Thị Đức, sinh năm 1977, HKTT tại khu phố Tư, phường Đồng Kỵ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an thành phố Từ Sơn đã bắt quả tang Nguyễn Thị Đ đang có hành vi bán trái phép 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng (nghi là ma túy) cho đối tượng Nguyễn Văn N, sinh năm 1992, HKTT tại khu phố Phù Lộc, phường Phù Chẩn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh với giá 400.000đ.
Vật chứng thu giữ :
- Nam tự nguyện giao nộp 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng (được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu M1); 01 mảnh giấy màu trắng có ghi chữ và số “XSTD ngày 30 tháng 3 n ăm 2022 BA21557617; PP21823039”.
- Đ tự nguyện giao nộp số tiền 400.000đ.
Quá trình khám xét khẩn cấp nhà nghỉ Minh Ngọc, cơ quan Công an đã thu giữ:
- Tại quầy tầng 1 có 01 chiếc áo khoác màu nâu của Đ, tại túi áo phía trước bên phải có 01 túi ni lông màu trắng, bên trong là 12 túi ni lông màu trắng, trong đó: 11 túi đều chứa chất tinh thể màu trắng, 01 túi chứa 22 viên nén hình tròn màu đỏ và 01 viên nén hình tròn màu xanh (được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu K1).
- Tại bàn uống nước tầng 1 có 15 túi nilon màu trắng bên trong không chứa gì.
- Tại phòng ngủ tầng 2 của Nguyễn Thị Đ thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S9, màu đen, đã qua sử dụng có gắn sim số 0944.151.102; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung ZFILIP, màu vàng, đã qua sử dụng có gắn sim số 0962.859.193
Tại bản Kết luận giám định số 282/KLGĐMT-PC09 ngày 01/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
" - Chất tinh thể màu trắng trong phong bì thư kí hiệu M1 có khối lượng là 0,0161g. Là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine.
- 01 viên nén hình tròn màu hồng bên trong phong bì thư kí hiệu M1 có khối lượng là 0,0792g. Là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine.
- Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư kí hiệu K1 có khối lượng là 2,5348g. Là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine.
- 22 viên nén hình tròn màu đỏ cùng 01 viên nén hình tròn màu xanh bên trong phong bì thư kí hiệu K1 có khối lượng 1,8520g. Là ma túy. Loại ma túy Methamphetamine.”
Tổng khối lượng ma túy đã giám định là 4,4821 gam.
Qúa trình điều tra xác định: Nguyễn Thị Đ là chủ nhà nghỉ Minh Ngọc, địa chỉ tại khu phố Xuân Đài, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Việc hoạt động kinh doanh của Đức không có giấy phép theo quy định.
Khoảng 10 giờ ngày 29/3/2022 Đ đang ở nhà nghỉ Minh Ngọc thì có một đôi nam nữ không quen biết đến thuê phòng nghỉ theo giờ. Đ dẫn đôi nam nữ này lên phòng 302. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, đôi nam nữ này trả phòng ra về, khi dọn dẹp thì Đ phát hiện tại phòng 302 có 01 túi ni lông màu trắng, bên trong có 13 túi ni lông màu trắng, trong đó: 12 túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon chứa 22 viên nén hình tròn màu đỏ, 01 viên nén hình tròn màu xanh và 01 viên nén hình tròn màu hồng. Biết đây là ma túy, Đ liền cất giấu số ma túy này vào túi áo phía trước của chiếc áo khoác màu nâu mà Đ đang để tại tầng 1 với mục đích bán kiếm lời.
Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 30/03/2022 Đức đang ngồi chơi cùng với chị Quang Thị H, sinh năm 1978, HKTT tại thôn Vân Tiến, xã Cát Vận, huyện Nghi Xuân, tỉnh Thanh Hóa tại nhà nghỉ Minh Ngọc thì Nguyễn Văn N và anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988, HKTT tại thôn Ngô Xá, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đi vào trong nhà nghỉ Minh Ngọc. Tại đây, N hỏi mua của Đ 400.000 đồng ma túy, gồm: 300.000đ tiền ma túy đá và 100.000đ tiền ma túy ngựa. Đ cầm tiền và đưa cho N 01 túi ni long màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng (là ma túy ngựa và ma túy đá). Khi N vừa cầm túi ni lông thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, bản Cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 15/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn để xét xử bị cáo Nguyễn Thị Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Nguyễn Thị Đ thừa nhận có bán 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy Methamphetamine có khối lượng là 0,0953g cho Nguyễn Văn N với giá 400.000 đồng và cất giữ 12 túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon chứa 22 viên nén hình tròn màu đỏ, 01 viên nén hình tròn màu xanh có khối lượng 4,3868g Methamphetamine mục đích kiếm lời là phạm tội. Bị cáo nhất trí với bản kết luận giám định số ma túy đã thu giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo Đ đã tác động gia đình nộp khoản tiền phạt tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn số tiền là 10.200.000 đồng ( do con gái là Nguyễn Thị T nộp thay). Chị T con gái bị cáo xác định số tiền này là của bị cáo chị chỉ nộp thay mẹ, do vậy chị không có yêu cầu gì và từ chối tham gia tố tụng.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1,5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/3/2022.
Phạt bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định; 15 túi nilong màu trắng.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng;
+ Trả lại cho anh Nguyễn Văn P 01 chiếc điện thoại Samsung S9, màu đen, đã qua sử dụng có gắn sim số 0944.151.102.
+ Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung ZFILIP, màu vàng đã qua sử dụng có gắn sim số 0962.859.193 và 01 chiếc áo khoác màu nâu nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tạm giữ số tiền 10.200.000 đồng bị cáo đã nộp tại biên lại thu tiền số 0002561 ngày 28/7/2022 để đảm bảo thi hành án.
+ Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 mảnh giấy màu trắng có ghi chữ và số “XSTD ngày 30 Tháng 3 Năm 2022 BA21557617; PP21823039”.
Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo đã khai báo và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/12/2021 tại nhà nghỉ Minh Ngọc ở khu phố Xuân Đài, phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Thị Đ có hành vi bán trái phép 0,0953 gam ma túy Methamphetamine cho Nguyễn Văn N với giá 400.000đ và cất giữ 4,3868 gam ma túy Methamphetamine cũng với mục đích để bán kiếm lời. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, phạm vào khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã nộp khoản tiền phạt tại Chi cục thi hành án thành phố Từ Sơn để tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Ngoài hình phạt chính cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước vì bị cáo phạm tội với động cơ trục lợi.
Về vật chứng : Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 400.000đ thu giữ của bị cáo là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung ZFILIP, màu vàng, đã qua sử dụng có gắn sim số 0962.859.193 là của bị cáo Đức, Đức sử dụng để liên lạc hàng ngày không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc điện thoại Samsung S9, màu đen, đã qua sử dụng có gắn sim số 0944.151.102 là của anh Nguyễn Văn P (chồng của Đ). Anh P không biết việc Đ mua bán trái phép chất ma túy, chiếc điện thoại này anh P dùng để liên lạc hàng ngày nên trả lại cho anh P.
Đối với 15 túi nilon Đ khai: số túi nilon này của ai, để ở đó từ bao giờ Đ không biết. Đ không có đề nghị gì đối với số túi nilon này nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc áo khoác màu nâu là tài sản của bị cáo, bị cáo đề nghị HĐXX trả lại nên trả lại cho bị cáo
Đối với mảnh giấy giấy ghi dòng chữ và số “XSTD ngày 30 Tháng 3 Năm 2022 BA21557617; PP21823039” là vật chứng quan trọng của vụ án, cơ quan điều tra đã lưu trong hồ sơ vụ án là phù hợp.
Số tiền 10.200.000 đồng của bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Liên quan trong vụ án này còn có
Đối với người đôi nam nữ đã thuê phòng 302 của Đ ngày 29/03/2022: Đ khai không biết cụ thể tên tuổi, địa chỉ cũng không nhớ được đặc điểm gì của hai người này nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn N: Quá trình đưa các đối tượng về trụ sở làm việc, lợi dụng sơ hở của cán bộ trông giữ, đối tượng N đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại địa chỉ theo lời khai của Nam, xác định tại địa bàn khu phố Phù Lộc, phường Phù Chẩn, thành phố Từ Sơn không có người nào có nhân thân, lý lịch như Nam đã khai nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với anh Nguyễn Văn T là người đã đi cùng N mua ma túy: Quá trình điều tra xác định anh T không liên quan đến việc mua bán ma túy giữa N và Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với anh Thắng là phù hợp.
Đối với hành vi kinh doanh không có giấy phép: ngày 29/3/2022 là lần đầu Đức cho khách thuê phòng, các ngày sau Đức không cho khách thuê phòng nữa nên cơ quan chức năng chưa có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Đ phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
* Về hình phạt: Căn cứ khoản 1,5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 04 ( Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/3/2022. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bị cáo 10.000.000đ sung Ngân sách Nhà nước.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định; 15 túi nilon màu trắng.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung ZFILIP, màu vàng, đã qua sử dụng có gắn sim số 0962.859.193 và 01 chiếc áo khoác màu nâu nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho anh Nguyễn Văn P 01 chiếc điện thoại Samsung S9, màu đen, đã qua sử dụng có gắn sim số 0944.151.102.
Tạm giữ số tiền 10.200.000đ bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002561 ngày 28/7/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để đảm bảo thi hành án.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự : Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án./.
| Nơi nhận: - TAND, Viện KSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND thành phố Từ Sơn; - Công an thành phố Từ Sơn; - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn; - Những người tham gia tố tụng; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |