vanban.org

Bản án 158/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trọng B phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trọng B 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, (hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 159/2022/HSST-LCĐKNCT ngày 12/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả). Giao bị cáo Nguyễn Trọng B cho U… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng B - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trọng B phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2022/HS - ST
Ngày: 22 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: bà Đặng Thị Minh Ngà.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Minh Tuấn và bà Đinh Thị Khang.

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên sơ cấp.

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2022/TLST – HS ngày 12 tháng 10 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2022/QĐXXST- HS ngày 07/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trọng B. Tên gọi khác: không. Giới tính: nam.

Sinh ngày 12/10/1964, tại huyện L, tỉnh H

Nơi thường trú: xóm 2, thôn D, xã N, huyện L, tỉnh H. Nơi tạm trú và nơi ở: tổ 5, khu N, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: lớp 12/12. nghề nghiệp: lao động tự do. Họ tên bố: Nguyễn Trọng C; họ tên mẹ: Nguyễn Thị C. Vợ: Vũ Thị H. Con: có 01 con sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo lệnh số 159/2022/HSST-LCĐKNCT ngày 12/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.

*Bị hại: Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Danh C là ông Trần Danh Q; sinh năm: 1954; địa chỉ: tổ 1, khu Đ, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Vương Tuấn L sinh năm: 1994; địa chỉ: tổ 5, khu 4C, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xử án vắng mặt.

+ Anh Vương Văn L; sinh năm: 1969; địa chỉ: tổ 5, khu 4C, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

+ Anh Phạm Văn V; sinh năm: 1983; địa chỉ: số nhà 74/311 DH tổ 3, phường DH, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn xử án vắng mặt.

* Người làm chứng: Chị Vũ Thị M; sinh năm: 1969; địa chỉ: tổ 5, khu N, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Anh Vũ Đình Ng; sinh năm: 1963; địa chỉ: tổ 5, khu N, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Chị Vũ Thị H; sinh năm: 1971; địa chỉ: tổ 5, khu N, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Nguyễn Trọng Qu; sinh năm: 2007; địa chỉ: tổ 5, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Chị Đồng Thị H; sinh năm: 1993; địa chỉ: số 25A, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Chị Bùi Thị Y; sinh năm: 1963; nơi cư trú: tổ 54, khu H, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Anh Châu Quốc V - sinh năm: 1990; nơi cư trú: tổ 63, khu D, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

(Người làm chứng đều vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 20/5/2022, Nguyễn Trọng B, có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 15A-251.95 chở các bạn đến đường Lý Bôn, thuộc tổ 26, khu Đ, phường C, thành phố Cẩm Phả, đỗ ở lề đường bên phải hướng đầu xe về phường C, để ăn sáng. Sau khi ăn sáng xong, khoảng 9 giờ 15 phút cùng ngày, B lên xe ô tô điều khiển đánh lái sang trái từ vị trí xe đỗ theo hướng phường CS - phường CT, do B không quan sát, không có tín hiệu báo hướng rẽ nên đã va chạm với xe mô tô BKS 14U1-232.12 do anh Trần Danh Ch (sinh năm 1962, trú tại xã T huyện V, Quảng Ninh) điều khiển đi phía sau cùng chiều đến, làm xe mô tô bị nghiêng đổ sang bên trái. Cùng lúc này, xe ô tô BKS 14C-288.38 do anh Vương Tuấn L đi hướng ngược chiều đến, đâm vào đuôi xe mô tô và anh Ch ngã xuống nền đường, bị bánh sau bên trái xe ô tô chèn qua người. Hậu quả: 02 xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng; anh Chn bị thương được đưa đi cấp cứu, đến 13 giờ cùng ngày thì tử vong.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng B khai nhận: bị cáo có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, sáng ngày 20/5/2022 bị cáo điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 15A-251.95 trên xe chở chị Vũ Thị M, anh Vũ Đình Ng; chị Vũ Thị H; Nguyễn Trọng Qu đến đường Lý Bôn, thành phố Cẩm Phả, đỗ ở lề đường bên phải hướng đầu xe về phường CT, về phía ngã tư Quảng Trường, để ăn sáng. Sau khi ăn sáng xong, khoảng 9 giờ 15 phút cùng ngày, bị cáo lên xe ô tô, bị cáo là người điều khiển xe, từ vị trí xe đang dừng đỗ, do chủ quan, bị cáo không quan sát, không bật tín hiệu xi nhan báo hiệu, đã đánh lái sang trái nên đã va chạm với xe mô tô BKS 14U1-232.12 do anh Trần Danh Ch điều khiển đi phía sau đến, làm xe của anh Chuyền nghiêng đổ, cùng lúc này, xe ô tô bán tải do anh Vương Tuấn L điều khiển đi hướng ngược chiều đến, anh Ch bị ngã và bị bánh sau bên trái xe ô tô tải chèn qua người. Anh Ch bị thương được đưa đi cấp cứu, đến 13 giờ cùng ngày thì tử vong. Anh Ch chết là do vụ va chạm tai nạn giao thông, lỗi ban đầu là do bị cáo trước khi đánh lái không quan sát phía sau, không bật tín hiệu xi nhan, nhưng anh Chchết là do bị bánh sau xe ô tô bán tải do anh L điều khiển chèn qua người. Bị cáo nhận thức được do lỗi của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến cái chết của anh Ch. Sau khi tai nạn, bị cáo và anh L, đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền là 200.000.000 đồng. Ngoài ra bị cáo khai, trong lúc ăn sáng bị cáo không dùng rượu bia hay chất kích thích nào khác, sau đó đã sửa xe mô tô trả cho gia đình bị hại.

Tại phiên tòa ông Vương Văn L có mặt, ông L trình bày: xe ô tô bán tải có BKS 14C-288.38 là của ông, ngày 20/5/2022 con trai ông là Vương Tuấn L được giao xe để đi giải quyết công việc gia đình, sau vụ tai nạn ông đã nhận được xe và không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tài liệu hồ sơ vụ án thể hiện:

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 11 giờ ngày 20/5/2022, thể hiện: Hiện trường không còn nguyên vẹn, nạn nhân đưa đi cấp cứu, xe mô tô đã được đưa ra khỏi hiện trường, xe ô tô BKS 14C-288.38 đã đưa nạn nhân đi cấp cứu. Mặt đường nhựa rộng 6,9m. Hai bên mép đường là khu vực vỉa hè. Không có vạch sơn, dải phân cách cứng ngăn cách hai chiều đường. Tiếp giáp mép đường bên phải theo chiều phường Cẩm Sơn – phường Cẩm Tây là khu vực rãnh nước rộng 0,3m. Tất cả các số đo được đo vào mép đường bên phải chiều đường phường Cẩm Sơn – phường Cẩm Tây: xe ô tô BKS 15A-251.95 đỗ trên chiều đường phường CS - phường CT, đầu xe quay hướng phường CT. Tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường là 0,6m, tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường là 0,2m; Vết cày xước mặt đường hình cung nằm trên mặt đường chiều đường CS - CT dài 0,3m. Đầu vết quay hướng Cẩm Sơn và cách mép đường là 2,9m. Cuối vết quay hướng CT và chếch vào mép đường bên trái chiều đường CS - CT, cuối vết cách mép đường 3,1m và cách trục lốp trước bên trái xe ô tô BKS 15A-251.95 là 0,5m; Vị trí camera ghi lại diễn biến vụ việc được gắn trên mép nhà bên phải số nhà 40.

Kết quả khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông:

- Xe ô tô BKS 15A-251-95: Gương chiếu hậu bên trái tì đẩy chiều từ sau về trước, từ trái sang phải; Mép viền Inox mặt gương cong vênh, biến dạng tung bật khỏi vị trí ban đầu; Kính cửa trước bên trái có viết xước trong diện (6,5x0,01)cm, điểm gần nhất cách mép cánh cửa trước bên trái 40cm, điểm thấp nhất cách đất 100cm; Cánh cửa trước bên trái có 02 vết trượt xước, vết 1 có chiều từ sau về trước, từ trái sang phải trong diện (7x1,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 67cm, điểm gần nhất cách mép cửa phía trước là 40cm; Vết 2 có chiều từ sau về trước, từ trái sang phải trong diện (7x0,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 74,5cm, điểm gần nhất cách mép phía trước là 48cm.

- Xe mô tô BKS 14U1-232-12: Chắn bùn phía trước trượt xước nhựa, nứt vỡ trong diện (23x14)cm; Cánh yếm bên trái có vết trượt xước nhựa, trong diện (6x3,5)cm; Gương chiếu hậu bên trái cong vênh, tì đẩy tay gương chiều từ trái sang phải, từ sau về trước, Vỡ gương và gáo gương; Đầu tay nắm bên phải mặt trước mất nhựa và lõi kim loại phía trong, diện mất nhựa (3x2)cm; Điểm thấp nhất cách đất 95,5cm; Đầu tay phanh bên phải trượt xước kim loại bám dính chất màu đen trong diện (1,5x0,02)cm, điểm thấp nhất cách đất 95cm; Đầu giá để chân trước bên trái cong vênh, tì đẩy chiều từ sau về trước, trượt mài sáng kim loại; Cần về số tì đẩy chiều từ trái sang phải sát vào đầu hộp xích; Cuối yên xe có vết trượt mài sạch bụi trong diện (13x3,5)cm; Tay xách cong gập chiều từ trên xuống dưới tì sát và cụm đèn chiều hậu; Cụm đèn hậu phía sau tì đẩy chiều từ trên xuống dưới, tung bật chốt hãm.

- Xe ô tô BKS 14C-288.38: Góc Bađsoc trước bên phải tì đẩy, bẹp lõm chiều từ trước về sau trong diện (63x54)cm, điểm lõm bán dính chất lạ màu đen, điểm lõm so với mặt trước đầu xe là 32cm; Tung bật chốt hãm; Má lốp trước bên trái có 02 vết trượt mài cao su: Vết 1 có diện (21x5,5)cm, điểm gần nhất trùng với chân van; Vết 2 có diện (18x6)cm, điểm gần nhất cách vết 1 là 28cm

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 151/22/TT ngày 31/5/2022 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh Quảng Ninh, kết luận: nguyên nhân tử vong của anh Trần Danh Ch sốc mất máu, sốc đa chấn thương do chấn thương ngực bụng kín, tràn máu, khoang ngực hai bên, mảng sườn di động ngực trái, vỡ lách, tụ máu sau phúc mạc và mạc treo đại tràng – gãy xương chậu. (Bút lục 74-77)

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 57/KL-ĐG ngày 12/9/2022, của Hội đồng định tài sản trong tố tụng thành phố Cẩm Phả, kết luận: xe ô tô BKS 15A-251.95 bị thiệt hại 495.000 đồng; xe ô tô BKS 14C-288.38 bị thiệt hại 2.530.000 đồng; xe mô tô BKS 14U1-232.12 bị thiệt hại 553.300 đồng.(Bút lục 64)

Anh Vương Tuấn L quá trình điều tra có lời khai: anh có giấy phép lái xe hạng B2, khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 20/5/2022 anh điều khiển xe ô tô BKS 14C-288.38 đi đến đường Lý Bôn, theo hướng CT đi CS, thì xảy ra tai nạn, việc xe ô tô do anh điều khiển gây tai nạn cho anh Trần Danh Ch là do va chạm giữa xe mô tô do anh Ch điều khiển và xe ô tô BKS 15A-251.95 diễn ra bất ngờ và quá nhanh, anh không kịp xử lý, nên bánh sau xe ô tô của anh đã chèn qua người anh Ch, anh đã cùng người dân đưa anh Ch đi cấp cứu, sau đó tự nguyện bồi thường, hỗ trợ cho gia đình anh Ch số tiền 100.000.000đồng. (bút lục 168-169)

Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Trần Danh Q, ông Q vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong quá trình điều tra đã thể hiện quan điểm: Gia đình ông đã nhận tiền bồi thường từ bị cáo và anh Vương Tuấn L, mỗi người 100.000.000đồng, ông đã nhận lại xe mô tô BKS 14U1-232-12, ông không yêu cầu gì khác, đồng thời có quan điểm xin miễn, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Trọng B.(Bút lục 167, 185,198)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Phạm Văn V, quá trình điều tra anh V có lời khai xác nhận: xe ô tô BKS 15A-251.95 thuộc quyền sở hữu của anh anh cho bị cáo mượn; sau tai nạn anh đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì khác (bút lục 176-177).

Tài liệu có hồ sơ vụ án còn có tài liệu khác: Biên bản làm việc cho bị cáo xem lại hình ảnh trích xuất tại USB do chị Nguyễn Thị Th giao nộp; Lời khai của người làm chứng: Vũ Thị M, Vũ Đình Ng, Vũ Thị H, Nguyễn Trọng Qu là người ngồi trên xe ô tô do bị cáo điều khiển; chị Đồng Thị H; Bùi Thị Y là người dân chứng kiến tai nạn xảy ra, Châu Quốc V là người nghe bị cáo gọi điện ngay sau khi xảy ra tai nạn; các tài liệu này đều có nội dung phù hợp lời khai của bị cáo, phù hợp tài liệu cơ quan điều tra thu thập (bút lục 55-56,199-210, 216; 214).

Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKS -CP, ngày 11/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Trọng B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên trình bày luận tội đưa ra các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng B từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra có quan điểm xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng B khai nhận ngày 20/5/2022, tại đường Lý Bôn thuộc phường CĐ, thành phố Cẩm Phả, bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 15A-251.95 khi rẽ chuyển hướng đã không bật xi nhan, không quan sát nhường đường cho người đi cùng chiều phía sau, nên đã gây ra va chạm giữa xe ô tô do bị cáo điều khiển với xe mô tô do anh Trần Danh Ch đi từ phía sau đến, anh Ch bị ngã, bị xe ô tô do anh Vương Tuấn L điều khiển đi ngược chiều chèn qua người, hậu quả làm anh Ch chết.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp tài liệu có trong hồ sơ vụ án: kết luận giám định pháp y về thương tích, tài liệu khám nghiệm hiện trường, tài liệu khám nghiệm phương tiện vụ tai nạn, kết luận định giá tài sản, phù hợp lời khai người làm chứng và các tài liệu điều tra khác.

Căn cứ vào các chứng cứ trên và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 15 phút, ngày 20/5/2022, tại đường Lý Bôn, thuộc tổ 26, khu ĐH, phường CĐ, Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Trọng B điều khiển xe ô tô BKS 15A-251.95 chuyển hướng từ lề đường bên phải đi hướng phường CS

- phường CT do không quan sát, không có tín hiệu báo hướng rẽ nên đã va chạm với xe mô tô BKS 14U1-232.12 do anh Trần Danh Ch điều khiển đi phía sau cùng chiều, làm xe mô tô bị đổ nghiêng sang trái. Cùng lúc đó, xe ô tô BKS 14C-288.38 do anh Vương Tuấn L điều khiển đi hướng ngược chiều đến đâm vào xe mô tô của anh Ch và anh Ch ngã xuống nền đường bị bánh xe chèn qua người. Hậu quả: anh Ch bị tử vong cùng ngày, xe ô tô BKS 15A-251.95 bị thiệt hại 495.000 đồng; xe ô tô BKS 14C-288.38 bị thiệt hại 2.530.000 đồng; xe mô tô BKS 14U1-232.12 bị thiệt hại 553.300 đồng.

Anh Vương Tuấn L có giấy phép lái xe hạng B2, điều khiển xe ô tô BKS 14C-288.38 đi đúng phần đường; việc xe ô tô đâm vào xe đuôi mô tô 14U1-232.12 và chèn vào người anh Trần Danh Ch là sự kiện bất ngờ; anh L không có lỗi, không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng B đã vi phạm khoản 1, 2 Điều 15 của Luật giao thông đường bộ. Do đó đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Trọng B đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; tội danh có khung hình phạt, từ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo là người đã được đào tạo, được cấp bằng lái xe, buộc phải biết khi điều kiển xe ô tô tham gia giao thông thì phải nghiêm túc thực hiện các quy định của Luật giao thông đường bộ, là những quy định đảm bảo an toàn cho người và phương tiện tham giao thông, nhưng bị cáo lại không thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến cái chết của anh Trần Danh Chuyền, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này.

Về trách nhiệm dân sự: người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, không yêu cầu gì khác, nên không đề cập giải quyết.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo thái độ ăn năn hối cải, sau khi gây tai nạn đã bồi thường cho gia đình bị hại và được đại diện gia đình bị hại xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đánh giá tính chất nguy hiểm hành vi thì thấy, hậu quả bị hại chết không chỉ do lỗi của bị cáo mà còn do hành vi bất khả kháng của anh Vương Tuấn L. Trên cở sở xem xét yếu tố nhân thân, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội mà để bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo yên tâm cải tạo.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, xác định xe ô tô BKS 15A-251.95 là của anh Phạm Văn V, xe ô tô BKS 14C-288.38 là của ông Vương Văn L, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh V, cho ông L; xe mô tô 14U1-232.12 của anh Trần Danh Ch, Cơ quan điều tra đã trả cho gia đình bị hại, là phù hợp, nên không đề cập giải quyết. 01USB do chị Th giao nộp là tài liệu nên lưu hồ sơ vụ án; 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Trọng B, trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Xét thấy bị cáo lần đầu phạm tội, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trọng B phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trọng B 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, (hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 159/2022/HSST-LCĐKNCT ngày 12/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả).

Giao bị cáo Nguyễn Trọng B cho UBND phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, quản lý và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Trọng B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm,

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, có mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Vương Văn L; vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại; vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vương Tuấn L, anh Phạm Văn V. Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho bị cáo Nguyễn Trọng B, ông Vương Văn L biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; báo cho ông Trần Danh Q, anh Vương Tuấn L và anh Phạm Văn V biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ