vanban.org

Bản án 158/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 25/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1-Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng Tr(Lượm) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma T2y” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y”. Bị cáo Nguyễn Thị Bích T (Bé Heo) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma T2y”

Xử phạt: Lê Hoàng Tr 07(bảy) năm 03(ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chấ ma T2y” và 07(bảy) năm 09(chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Hoàng Tr phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15(mười năm) năm tù. Thời hạn tù tính t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoàng Tr và đồng bọn-Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? 1-Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng Tr(Lượm) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma T2y” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y”. Bị cáo Nguyễn Thị Bích T (Bé Heo) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma T2y”
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H2ỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số 158/2020/HSST
Ngày 25/12/2020
Long Điền, ngày 25 tháng 12 năm 2020

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN H2ỆN LONG ĐIỀN

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Ah

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Ngọc Dung

2. Bà Nguyễn Thị Di

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị T1 - Thư ký Tòa án nhân dân H2ện Long Điền, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân H2ện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông PhA Phúc H2 - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 25 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân H2ện Long Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2020/HSST ngày 11 tháng 11năm 2020.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo:

1-Lê Hoàng Tr(Lượm), sinh năm 1994 tại Bà Rịa -Vũng Tàu. Nơi cư trú: Tổ 8 ấp Phước Hưng, xã Tam Phước, H2ện Long Điền, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 4/12; con ông Lê Chí D, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1975; Vợ con: Chưa có .Tiền án: Không. Tiền sự: Quyết định số 15/2018/QĐ-TA ngày 01/3/2018 của TAD H2ện Long Điền áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Hoàng Tr, thời hạn 20 tháng. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2020. Có mặt.

2- Nguyễn Thị Bích T(Bé Heo), sinh năm 1997 tại Vĩnh Long. HKTT: ấp Đồng Bé, xã Tân Long, H2ện MAg Thít, tỉnh Vĩnh Long. Chỗ ở hiện nay: Tổ 8 ấp Phước Hưng, xã Tam Phước, H2ện Long Điền, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Nguyễn Minh Ch, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1958; Chồng tên là Huỳnh Khánh Hùng, sinh năm 1992(đã ly hôn) và 01 con tên Huỳnh Minh Lâm, sinh năm 2016 .Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2020. Có mặt.

- Người làm chứng:

1-Nguyễn Đức T1, sinh năm 2000. Nơi cư trú: ấp Bắc 3, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.Vắng mặt

2-Võ Thị Trúc Tr1,sinh năm 1991. Nơi cư trú:Tổ 3, khu phố ThAh Long, thị trấn Đất Đỏ, H2ện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vắng mặt

3-Lê Minh H,sinh năm 1998.Nơi cư trú: ấp Phước Hưng, xã Tam Phước, H2ện Long Điền, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Vắng mặt

4-Bùi ThAh A, sinh năm 1993. Nơi cư trú: khu phố Long Liên, thị trấn Long Điền, H2ện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vắng mặt

5-Mai Ah T2, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Tổ 1 ấp Phước Hưng, xã Tam Phước, H2ện Long Điền, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Vắng mặt

6-Đào Gia H2, sinh năm 1998. Nơi cư trú:Tổ 3 ấp Tân Châu, xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, trAh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoàng Tr và Nguyễn Thị Bích T chung sống với nhau như vợ chồng tại nhà của Tr thuộc tổ 8, ấp Phước Hưng, xã Tam Phước, H2ện Long Điền và đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma T2y. Từ tháng 01/2020 Tr bắt đầu bán trái phép chất ma T2y (loại ma T2y đá), Tr thường mua ma T2y của đối tượng tên Quẹo (chưa rõ nhân thân, lai lịch) về để sử dụng và bán lại cho người khác và những lúc Tr không có ở nhà mà có người điện thoại cho Tr hỏi mua ma T2y Tr sẽ điện thoại cho T chỉ địa điểm cất giấu ma T2y để T lấy ma T2y bán. Ngoài việc bán ma T2y cho người khác, Tr còn tổ chức sử sụng trái phep chất ma T2y tại nhà của Tr.

Vào khoảng 06 giờ ngày 25/6/2020, khi Tr đAg điều khiển xe mô tô đi mua đồ ăn sáng thì có một người tên Phú (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến gặp hỏi Tr mua 800.000đ ma T2y đá, Tr đồng ý và hẹn Phú đến nhà Tr để lấy ma T2y. Sau đó, Tr nhận của Phú 800.000đ rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực Chùa Bà thuộc thị trấn Long Điền, H2ện Long Điền gặp Quẹo hỏi mua 02 gói ma T2y đá với giá 700.000đ mục đích để bán lại cho Phú. Sau khi mua được ma T2y, Tr cất giấu 02 gói ma T2y vào trong người rồi điều khiển xe mô tô đi về lại nhà, trên đường về Tr chạy xe vào nhà một người chị tại xã A Ngãi, H2ện Long Điền để đón Nguyễn Đức T1 (là bạn của Tr) rồi Tr chở T1 về nhà Tr. Khi về đến nhà, trong nhà Tr có T, Võ Thị Trúc Tr1 (là bạn gái của T1) và Lê Minh H (là em trai của Tr). Lúc này, Tr đem 02 gói ma T2y vừa mua được vào trong phòng ngủ của mình cất giấu để chờ Phú đến lấy. Đồng thời, Tr lấy bộ dụng cụ sử dụng ma T2y bên trong có sẵn ma T2y đá (do Tr sử dụng trước đó còn dư lại) ra để Tr, T1, T, Tr1 và H cùng sử dụng. Trong lúc sử dụng ma T2y, Bùi ThAh A (là bạn của Tr, cũng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma T2y) đến nhà Tr để lấy tiền Tr nợ của A, Tr lấy số tiền 1.000.000đ trả cho A rồi A bỏ đi về. Sau khi sử dụng ma T2y xong, Tr nằm ngủ, còn T1, T, Tr1 và H ngồi nói cH2ện với nhau trong nhà. Đến khoảng 11 giờ 10 phút cùng ngày, cơ quA công A vào kiểm tra nhà Tr phát hiện bắt quả tAg Tr có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma T2y với mục đích để bán cho Phú. Khi cơ quA công A kiểm tra nhà Tr phát hiện A ở trong nhà Tr đi ra, Mai Ah T2 và Đào Gia H2 đAg đi đến nhà Tr mục đích để mua ma T2y nhưng chưa kịp mua thì bị phát hiện, cơ quA công A đã mời tất cả về làm việc.

Qua điều tra xác định, trong khoảng thời giA từ tháng 01/2020 đến ngày bị bắt, Lê Hoàng Tr đã bán ma T2y cho nhiều người (không rõ nhân thân, lai lịch) tại nhà của Tr, trong đó có Ngọc nhà ở thị trấn Đất Đỏ, H2ện Đất Đỏ; T1 nhà ở xã A Nhứt, H2ện Long Điền, những người còn lại Tr không biết tên, với giá mỗi lần bán từ 200.000đ đến 500.000đ. Nguyễn Thị Bích T đã giúp Tr lấy ma T2y bán cho người khác tại nhà của Tr được 05 lần, mỗi lần bán với giá từ 200.000đ đến 500.000đ. Ngoài ra, Tr còn nhiều lần cung cấp ma T2y và dụng cụ sử dụng ma T2y để cho T1, Tr1, H và A sử dụng tại nhà của Tr, trong đó T1 và H sử dụng nhiều lần, Tr không nhớ rõ cụ thể bao nhiêu lần; A sử dụng 01 lần vào ngày 24/6/2020; Tr1 sử dụng 01 lần vào ngày 25/6/2020.

Tại cơ quA điều tra, qua làm việc Lê Hoàng Tr và Nguyễn Thị Bích T đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ và xử lý: 02 gói nylon hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh, không màu trong suốt, được niêm phong trong 01 phong bì màu vàng, sau khi gửi giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã niêm phong lại vụ số 311 ngày 02/7/2020; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma T2y đá; 01 điện thoại di động hiệu Philips, màu đen. Hiện tất cả số vật chứng trên đã cH2ển Chi cục thi hành án dân sự H2ện Long Điền quản lý, chờ xử lý

Tại Bản kết luận giám định số 311/GĐMT-PC09(Đ2) ngày 02/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu - trong suốt chứa trong 02 (hai) gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu vàng, có hình dấu của Công A xã Tam Phước – CAH Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thượng úy Đặng Văn Truyền, Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Văn Luôn, “Nguyễn Đức T1”, Lê Hoàng Tr, Nguyễn Minh Tuấn, gửi đến giám định có tổng khối lượng 3,0829 gam, là ma T2y, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKSLĐ ngày 09 tháng 11 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân H2ện Long Điền đã: Truy tố Lê Hoàng Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma T2y” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự 2015. Truy tố Nguyễn Thị Bích T về tội “Mua bán trái phép chất ma T2y” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015

Đối với đối tượng tên Phú (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ma T2y của Tr và Quẹo (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma T2y cho Tr, Cơ quA điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Đức T1, Võ Thị Trúc Tr1, Lê Minh H, Bùi ThAh A, Mai Ah T2 và Đào Gia H2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma T2y, Cơ quA CSĐT Công A H2ện Long Điền đã cH2ển xử lý hành chính

Tại phiên tòa và trong lời nói sau cùng bị cáo Lê Hoàng Tr thừa nhận hành vi “Mua bán trái phép chất mà T2y” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y” và bị cáo Nguyễn Thị Bích T thừa nhận hành vi “Mua bán trái phép chất ma T2y” như cáo trạng truy tố. Bị cáo Tr và T đều xin giảm nhẹ hình phạt để trở về với gia đình.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quA điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma T2y” theo điểm b khoản 2 Điều 251 và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo Nguyễn Thị Bích T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma T2y” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Về tình tiết giảm nhẹ áp dụng cho bị cáo Tr và T theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Áp dụng Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề xuất mức án đối với bị cáo Tr từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma T2y” và từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáoTr phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 15 năm 06 tháng đến 17 năm 06 tháng tù.

Đề xuất mức án đối với bị cáo T từ 07 đến 08 năm tù.

Về vật chứng: Tịch thu tiệu hủy: 01 phong bì màu vàng, bên trong có chứa chất ma T2y, sau khi gửi giám định đã niêm phong lại vụ số 311 ngày 02/7/2020 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma T2y.Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động, hiệu Philip, màu đen đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, trAh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA điều tra Công A H2ện Long Điền, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân H2ện Long Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và không có người nào có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Lê Hoàng Tr và Nguyễn Thị Bích T đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời thừa nhận của các bị cáo phù hợp nội dung bản cáo trạng, phù hợp người làm chứng, kết luật giám định, vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiện tòa, có đủ cơ sở xác định:

-Về hành vi mua bán trái phép chất ma T2y: Vào khoảng 06 giờ ngày 25/6/2020 để có ma T2y bán cho người tên Phú(chưa rõ lai lịch), Tr đã nhận của Phú 800.000đ và hẹn Phú đến nhà Tr để lấy ma T2y. Sau đó Tr đã điều khiển xe mô tô đến khu vực “Chùa Bà” thuộc thị trấn Long Điền H2ện Long Điền để gặp đối tượng tên Quẹo(chưa rõ lai lịch) mua 02 gói ma T2y với số tiền 700.000đ, sau khi mua được ma T2y Tr mAg hai gói ma T2y về nhà cất giấu tại phòng ngủ của mình đợi Phú đến nhận ma T2y thì bị phát hiện bắt giữ, theo kết quả giám định có khối lượng là 3,0829g, là ma T2y loại Methamphetamine.

Ngoài ra trước đó từ tháng 01/2020 Tr đã bắt đầu bán ma T2y trái phép, Tr thường mua ma T2y của Quẹo để bán lại kiếm lời, địa điểm mua bán tại nhà của Tr. Khi Tr không có nhà mà có người điện thoại hỏi mua ma T2y, Tr sẽ điện thoại cho T chỉ địa điểm cất giấu ma T2y để T lấy ma T2y bán. Từ tháng 01/2020 đến ngày bị bắt ngày 25/6/2020, tại nhà của Tr, Tr đã bán ma T2y cho nhiều người trong đó có Ngọc nhà ở thị trấn Đất Đỏ, H2ện Đất Đỏ; T1 nhà ở xã A Nhứt, H2ện Long Điền và nhiều người khác chưa rõ lai lịch, mỗi lần bán với giá từ 200.000đ đến 500.000đ. Đối với Nguyễn Thị Bích T trong thời giA trên đã giúp Tr bán ma T2y nhiều lần, ở nhiều thời điểm khác nhau với số lần bán là 05 lần, mỗi lần bán ma T2y với số tiền từ 200.000đ đến 500.000đ cụ thể: Vào tháng 02/2020 T giúp Tr bán ma T2y với số tiền 200.000đ; tháng 03/2020 T giúp Tr bán ma T2y với số tiền 200.000đ; trong tháng 03, cách lần thứ 2 khoảng 10 ngày T giúp Tr bán ma T2y với số tiền là 300.000đ; vào tháng 04/2000 T giúp Tr bán ma T2y với số tiền 500.000đ; vào tháng 5/2020 T giúp Tr bán ma T2y với số tiền là 200.000đ . Như vậy, có đủ căn cứ xác định Tr là người cầm đầu, chủ mưu trong việc bán ma T2y cho người khác nhiều lần, còn T có vai trò giúp sức cho Tr thực hiện hành vi bán trái phép chất ma T2y nhiền lần cho người khác. Hành vi của Tr và T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma T2y’ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

- Về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y: Tại thời điểm bị phát hiện bắt quả tAg ngày 25/6/2020, sau khi cất giấu 02 gói ma T2y để bán cho Phú, Tr đã lấy 01 bộ dụng cụ ma T2y bên trong đã có sẵn ma T2y của Tr mAg ra cho Tr, T1, Tr1 và H cùng sử dụng và bị bắt quả tAg. Ngoài ra trước đó Tr đã cung cấp dụng cụ sử dụng ma T2y, cung cấp ma T2y để cho T1, Tr1, H và A sử dụng dụng tại nhà của mình, trong đó T1 và H sử dụng nhiều lần, A sử dụng 01 lần vào ngày 24/6/2020, Tr1 sử dụng 01 lần vào ngày 25/6/2020, các lần Tr cung cấp dụng cụ sử dụng ma T2y, cung cấp ma T2y cho các đối tượng sử dụng ma T2y đều không lấy tiền. Hành vi cung cấp dụng cụ sử dụng ma T2y, cung cấp ma T2y nhiều lần, cho nhiều đối tượng sử dụng ma T2y tại nhà của mình của Lê Hoàng Tr đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y” theo quy định tại a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Đối với đối tượng tên Phú (không rõ nhân thân, lai lịch) mua ma T2y của Tr và Quẹo (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma T2y cho Tr, kiến nghị Cơ quA điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Đức T1, Võ Thị Trúc Tr1, Lê Minh H, Bùi ThAh A, Mai Ah T2 và Đào Gia H2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma T2y, Cơ quA CSĐT Công A H2ện Long Điền đã cH2ển xử lý hành chính là có căn cứ.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma T2y, góp phần tạo ra những lớp người nghiện, là hiểm họa gây ra các tệ nạn xã hội, đe dọa đến A toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của cộng đồng và gây mất trật tự A ninh tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được ma T2y là chất độc hại,bị nhà nước cấm mua bán, tổ chức sử dụng nhưng vẫn cố tình thực hiện cho thấy ý thức xem thường pháp luật, vì vậy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Tr và T đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại thời điểm bị phát hiện ngày 25/6/2020 và trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Tr và T tự nhận tội và khai báo hành vi phạm tội về tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y và mua bán trái phép chất ma T2y xảy ra trước đây nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Tự thú” theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo Tr có nhân thân xấu, năm 2018 đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma T2y.

Về vai trò của các bị cáo: Đối với tội mua bán trái phép chất ma T2y bị cáo Tr là người cầm đầu, chủ mưu. Bị cáo T giữ vai trò giúp sức. Căn cứ vào Điều 58 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt đối với từng bị cáo.

[7] Về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt:Xét thấy bị cáo Nguyễn Thị Bích T có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.

Về tổng hợp hình phạt: Khi xét xử bị cáo Lê Hoàng Tr cùng 01 lần về nhiều tội. Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt chung cho cả hai tội.

Về vật chứng:Đối với 01 phong bì màu vàng, bên trong có chứa chất ma T2y, sau khi gửi giám định đã niêm phong lại vụ số 311 ngày 02/7/2020 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma T2y là vật cấm, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động, hiệu Philip, màu đen đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về án phí:Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1-Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng Tr(Lượm) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma T2y” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y”. Bị cáo Nguyễn Thị Bích T (Bé Heo) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma T2y”

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm a,b khoản 2 Điều 255; điểm s,r khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38;Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Lê Hoàng Tr 07(bảy) năm 03(ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chấ ma T2y” và 07(bảy) năm 09(chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma T2y”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Hoàng Tr phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15(mười năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2020.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s,r khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015

Xử phạt:Nguyễn Thị Bích T 06(sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2020.

2-Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiệu hủy: 01 phong bì màu vàng, bên trong có chứa chất ma T2y, sau khi gửi giám định đã niêm phong lại vụ số 311 ngày 02/7/2020 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma T2y đá.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động, hiệu Philip, màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 863544039371243, số Imei 2: 863544039573244.

(Toàn bộ vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự H2ện Long Điền đAg tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng số 32/BB-THA ngày 10/11/2020)

3- Về án phí: Bị cáo Lê Hoàng Tr và bị cáo Nguyễn Thị Bích T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ(Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ