vanban.org

Bản án 158/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua

ngày 17 tháng 10 năm 2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng L khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng"
  • Tòa quyết gì? Số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 158/2020/DS-ST
Ngày: 14-9-2020
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Tâm;

2. Ông Huỳnh Tấn Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: không tham gia.

Trong ngày 14 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2020/TLST-DS ngày 11

tháng 6 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 403/2020/QĐXX-ST ngày 03 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng L; địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, số 109

Trần Hưng Đạo, phường C, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo

pháp luật: Ông Phạm Doãn S, chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy

quyền: Ông Lê Thanh P, chức vụ: tổ trưởng tổ khách hàng – phòng giao dịch P,

An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 18 tháng 5 năm 2020); có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc P, sinh năm 1981; địa chủ cư trú: ấp K, xã

K, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn Ngân hàng L trình bày:

Ngân hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P với ông Nguyễn

Quốc P có ký kết Hợp đồng tín dụng số: HĐTD9122018144 ngày 21/3/2018 về

việc Ngân hàng L cho ông P vay số tiền 150.000.000đồng, thời hạn vay 60

tháng, kể từ ngày 21/3/2018 đến ngày 21/3/2023; Lãi suất cho vay là 11,5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn, phương thức trả nợ gốc, lãi: phân làm 60 kỳ trả nợ, trong đó 59 kỳ đầu trả tiền gốc là 2.500.000đồng cố định vào ngày 25 hàng tháng (bắt đầu từ tháng 4/2018) và kỳ cuối trả số tiền còn lại vào ngày đến hạn; tiền lãi vay được trả vào ngày 25 hàng tháng, trong 59 kỳ đầu (bắt đầu và tháng 4/2018) và phần lãi còn lại trả vào ngày đáo hạn theo dư nợ thực tế.

Khi thực hiện hợp đồng tín dụng, ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho

ông P, quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 25/7/2019, ông P vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vay số tiền 3.586.473đồng dẫn đến phát sinh nợ quá hạn đối với toàn bộ số tiền nợ gốc 112.499.955đồng và lãi phát sinh; ngân hàng có thông báo cho ông P và thông báo đến trường học cơ sở L, huyện C, tỉnh An Giang, nơi ông P công tác để ông có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông vẫn cố tình trì hoãn không thanh toán dứt điểm nợ vay cho ngân hàng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Quốc P số tiền nợ gốc 112.499.955đồng, lãi quá hạn đến ngày 14/5/2020 là 10.392.348đồng, lãi phạt gốc 1.865.684đồng, phạt chậm trả lãi 437.504đồng, tổng cộng vốn và lãi là 125.195.491đồng, yêu cầu tính lãi phát sinh thực tế theo mức lãi suất nợ quá hạn cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho ngân hàng; Yêu cầu ông Nguyễn Quốc P chuyển toàn bộ các khoản trợ cấp ngành, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp từ Bảo hiểm xã hội và các nguồn trợ cấp khác (nếu có) về tài khoản ngân hàng L để trả nợ vay; khi nào ông Nguyễn Quốc P thực hiện thanh toán đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P bao gồm số tiền nợ gốc, nợ lãi và lãi phát sinh thực tế cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho ngân hàng thì Ngân hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P sẽ tiến hành tất toán khoản vay của ông Nguyễn Quốc P. Tại phiên tòa, ông Lê Thanh P là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng L xác định, Đến ngày 14/9/2020 dư nợ của khách hàng ông Nguyễn Quốc P số tiền nợ gốc 112.499.939đồng, lãi trong hạn là 13.616.844đồng, lãi quá hạn đến ngày xét xử là 3.653.875đồng, lãi phạt 829.575đồng, tổng cộng là 130.600.233đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Quốc P đã được tống đạt

Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải nhưng không gửi văn bản ghi ý kiến về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Ngân hàng L khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng tín dụng

vay tiền với ông Nguyễn Quốc P; ông P vay tiền của Ngân hàng L để sử dụng vào việc tiêu dùng mua sắm trang thiết bị, nội thất gia đình. Đồng thời, ông P có địa chỉ cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều

28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải

quyết là đúng thẩm quyền.

Ông Nguyễn Quốc P đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần

thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo

quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng

giao dịch P với ông Nguyễn Quốc P được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa

thuận và được thực hiện giải ngân. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn

Quốc P vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền theo định kỳ, nên Ngân hàng L khởi

kiện yêu cầu ông Nguyễn Quốc P số tiền nợ gốc 112.499.939đồng, lãi trong hạn

là 13.616.844đồng, lãi quá hạn đến ngày xét xử là 3.653.875đồng, lãi phạt

829.575đồng, tổng cộng là 130.600.233đồng. Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ

chức tín dụng; Điều 282 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu

khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng L yêu cầu ông Nguyễn Quốc P trả số tiền

vốn vay; đối với tiền lãi phát sinh thì, theo Hợp đồng tín dụng số:

HĐTD9122018144 ngày 21/3/2018, được giao kết giữa ông Nguyễn Quốc P và

Ngân hàng L, theo đó các bên thỏa thuận tiền lãi quá hạn bằng 150% lãi suất

trong hạn, lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%/năm; tiền lãi

các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật được hướng dẫn tại

khoản 2 Điều 8, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019

của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và phù hợp với án lệ số

08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày

17 tháng 10 năm 2016, nên yêu cầu tính lãi của Ngân hàng đến ngày xét xử

được Tòa án chấp nhận và tiền lãi phát sinh được tính kể từ ngày tiếp theo ngày

xét xử sơ thẩm với mức lãi theo hợp đồng tín dụng.

Đối với việc Ngân hàng L yêu cầu ông Nguyễn Quốc P chuyển toàn

bộ các khoản trợ cấp ngành, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp từ Bảo hiểm xã hội và

các nguồn trợ cấp khác (nếu có) về tài khoản ngân hàng L để trả nợ vay; khi nào

ông Nguyễn Quốc P thực hiện thanh toán đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng

L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P bao gồm số tiền nợ gốc, nợ lãi và

lãi phát sinh thực tế cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho ngân hàng thì

Ngân hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P sẽ tiến hành tất toán

khoản vay của ông Nguyễn Quốc P là không thuộc thẩm quyền giải quyết của

Tòa án.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các

Điều 280, 282 Bộ luật dân sự; Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ:

Số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua

ngày 17 tháng 10 năm 2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng L.

1) Buộc ông Nguyễn Quốc P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng L số tiền vốn

gốc còn nợ là 112.499.939đồng (Bằng chữ: Một trăm mười hai triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn chín trăm ba mươi chín đồng), lãi trong hạn là 13.616.844đồng (Bằng chữ: Mười ba triệu sáu trăm mười sáu nghìn tám trăm bốn mươi bốn đồng), lãi quá hạn đến ngày xét xử là 3.653.875đồng (Bằng chữ: Ba triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng), lãi phạt 829.575đồng (Bằng chữ: Tám trăm hai mươi chín nghìn năm trăm bảy mươi lăm đồng);

2) Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Quốc P có

nghĩa vụ trả cho Ngân hàng L số tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tính dụng số HĐTD9122018144 ngày 21/3/2018;

3) Đình chỉ giải quyết yêu cầu của Ngân hàng L yêu cầu ông Nguyễn

Quốc P chuyển toàn bộ các khoản trợ cấp ngành, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp từ Bảo hiểm xã hội và các nguồn trợ cấp khác (nếu có) về tài khoản ngân hàng L để trả nợ vay; khi nào ông Nguyễn Quốc P thực hiện thanh toán đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P bao gồm số tiền nợ gốc, nợ lãi và lãi phát sinh thực tế cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay cho ngân hàng thì Ngân hàng L – Chi nhánh An Giang, phòng giao dịch P sẽ tiến hành tất toán khoản vay của ông Nguyễn Quốc P do không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

4) Về án phí: Ông Nguyễn Quốc P phải chịu án phí sơ thẩm là

6.530.000đồng (Bằng chữ: sáu triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng); Ngân hàng L được nhận lại số tiền 3.129.000đồng (Ba triệu một trăm hai mươi chín nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008553 ngày 11/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang;

5) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự

có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ