vanban.org

Bản án 158/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 27/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Đình A, Phùng Tuấn H phạm tội “Đánh bạc”.

1. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đình A 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2019; Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước. 2. Xử phạt: bị cáo Phùng Tuấn H 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình A- Cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Đình A, Phùng Tuấn H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2019/HS-ST
Ngày 27/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng

Bà Nguyễn Thị Thinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Phượng - Thư ký, Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Việt Hùng, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 162/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2019/ QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và Tên: Nguyễn Đình A, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1994, tại Chương Mỹ - Hà Nội; Trú tại: thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Con ông Nguyễn Đình C và bà Điền Thị B; Vợ: Nguyễn Thị Hương N; Con: Có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Lịch sử bản thân:

+ Tại bản án số 89/2017/HSST ngày 16/8/2017 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 9 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Nộp án phí ngày 29/12/2017. Ra trại về địa phương ngày 16/9/2017.

+ Ngày 26/02/2018 công an thành phố N xử phạt 750.000 đông về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Nộp phạt ngày 26/4/2018

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/10/2019 đến ngày 23/10/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, (có mặt).

2. Họ và Tên: Phùng Tuấn H, (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1992, tại Ninh Bình; Trú tại: số nhà 613, đường N, phố T, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Phùng Văn N và bà Dương Thị L; Vợ: Đinh Thị Minh H; Con: Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/10/2019 đến ngày 23/10/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Tuấn H, Nguyễn Đình A có mối quan hệ bạn bè với nhau, do biết Phùng Tuấn H có chỗ ghi số lô, số đề nên khi có nhu cầu mua số lô, số đề thì Nguyễn Đình A dùng điện thoại di động của mình ghi các số lô, số đề cần mua rồi gửi tin nhắn cho Hưng để nhờ Hưng ghi hộ. Hành vi đánh bạc bằng hình thức “chơi lô, đề” được thua bằng tiền của Phùng Tuấn H, Nguyễn Đình A được thống nhất cách chơi như sau:

+ Đối với “số đề” 02 số người chơi chọn mua một hoặc nhiều cặp số đề bất kỳ (từ cặp số 00 đến cặp số 99). Giá trị mỗi cặp số đề mua bao nhiêu là tùy người chơi. Việc đối chiếu kết quả được thống nhất: Lấy hai số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để đối chiếu; nếu cặp số của An mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày thì An“trúng đề”. Trong trường hợp này, Hưng sẽ thanh toán với người ghi số đề sau đó thanh toán cho An số tiền trúng thưởng có giá trị gấp tám mươi lần số tiền An đã bỏ ra mua các cặp số đề.

+ Đối với “số lô Hà Nội” người chơi chọn mua một hoặc nhiều cặp số lô bất kỳ từ cặp số 00 đến cặp số 99, mua bao nhiêu cặp số lô và giá trị bao nhiêu là tùy người chơi. Việc đối chiếu thanh toán được thống nhất: Lấy hai số cuối của các giải trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để đối chiếu; nếu cặp số lô của An mua trùng khớp với hai số cuối của một hoặc các giải thưởng trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc hôm đó thì An “trúng lô”. Cứ 23.000 đồng An bỏ ra mua một cặp“số lô Hà Nội” được tính là 01 điểm, nếu trùng khớp với một giải thì được nhận 80.000 đồng, trùng khớp hai giải thì được 160.000 đồng. Trong trường hợp này Hưng sẽ thanh toán tiền với người ghi số lô sau đó thanh toán cho An.

Từ “nguyên tắc, hình thức” chơi “Số lô, số đề” như trên, trong ngày 15/10/2019 Nguyễn Đình A, Phùng Tuấn H đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề thông qua tin nhắn điện thoại di động cụ thể như sau:

Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 15/10/2019, Nguyễn Đình A có nhu cầu mua các số lô, số đề nên An sử dụng điện thoại hiệu Nokia 1280 lắp sim 0817.....789 của mình gửi tin nhắn đến số điện thoại 0947.....835 của Phùng Tuấn H để nhờ Hưng mua hộ số lô Hà Nội 89 là 300 điểm với tổng số tiền là 6.900.000 đồng, số đề 89 với số tiền 100.000 đồng. Do không thấy H nhắn tin lại nên A tiếp tục nhắn tin mua số lô, số đề vào số điện thoại 0985.....586 của Hưng, nhưng vẫn không thấy H trả lời nên A đã sử dụng sim số 0817.....789 sao chép nội dung tin nhắn mua các số lô, số đề gửi tin nhắn sang máy điện thoại Nokia 105 màu xanh lắp sim 0869.....881 của A, sau đó A sử dụng số điện thoại 0869.....881 nhắn tin đến số điện thoại 0985.....586 của H, H nhận được tin nhắn nhờ mua hộ số lô, số đề với tổng số tiền 7.000.000 đồng của A và đã nhắn tin xác nhận lại. Sau khi nhận tin nhắn nhờ mua các số lô của A, H đi bộ đến bàn xổ số của một người phụ nữ tên Lý tại đường P, phường N, thành phố N và ghi số lô, số đề A mua rồi thanh toán số tiền 7.000.000 đồng cho người phụ nữ tên Lý nhưng không lấy cáp ghi số lô, số đề. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 15/10/2019 thì các số lô, số đề A nhờ H mua không trúng thưởng. Toàn bộ số tiền đánh bạc A và H chưa thanh toán với nhau.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105 lắp sim 0869.....881 của Nguyễn Đình A sau khi nhắn tin mua các số lô, số đề của Phùng Tuấn H thì Nguyễn Đình A đã đưa cho bạn mình Vũ Hồng Q sinh năm 1998 trú tại phố P, phường N, thành phố N sử dụng. Khoảng 21 giờ ngày 15/10/2019, Vũ Hồng Q cùng bạn là Phạm Văn P bị tổ tuần tra 191 Công an thành phố N kiểm tra do điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B2-5...44 không đội mũ bảo hiểm. Kiểm tra tin nhắn điện thoại di động hiệu Nokia 105 lắp sim 0869.....881 của Q có nội dung tin nhắn mua bán số lô, số đề với số điện thoại 0985.....586. Vũ Hồng Q khai nhận chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105 lắp sim 0869.....881 là của Nguyễn Đình A mới đưa cho Q dùng. Thu giữ của Vũ Hồng Q 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B2-5...44, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 lắp sim 0869.....881.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đình A đã làm đơn xin đầu thú đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 lắp sim 0817.....789. Phùng Tuấn H tự giao nộp 01 điện thoại hiệu Nokia 105 lắp sim 0985.....586, 01 điện thoại hiệu Iphone 6 màu trắng lắp sim 0947.....835. Cơ quan điều tra đã chứng minh chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105 lắp sim 0869.....881 thu giữ của Vũ Hồng Q là của Nguyễn Đình A, các số lô, số đề thu giữ trong số máy 0869.....881 là của Nguyễn Đình A gửi đến số máy 0985.....586 của Phùng Tuấn H để nhờ Hưng ghi hộ

Tại bản cáo trạng số 165/CT-VKS ngày 11/11/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố các bị cáo Nguyễn Đình A, Phùng Tuấn H đều về tội “Đánh bạc”; theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Đình A, Phùng Tuấn H đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”; Đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; BLHS, xử phạt Nguyễn Đình A từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2019. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng để sung công quỹ Nhà nước.

* Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt Phùng Tuấn H từ 22.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

- Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen lắp sim 0817.....789; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh lắp sim 0869.....881 của Nguyễn Đình A; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 lắp sim 0985.....586; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng lắp sim 0947.....835 thu giữ của Phùng Tuấn H.

- Buộc bị cáo Nguyễn Đình A nộp lại số tiền 7.000.000 đồng đã sử dụng vào việc đánh bạc để sung quỹ nhà nước;

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản sự việc, biên bản kiểm tra thông tin trong điện thoại thu giữ của các bị cáo, các tài liệu chứng cứ có trong hồ vụ án; Do đó, có đủ căn cứ kết luận lợi dụng kết quả xổ số kiết thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày, khoảng 17 giờ 50 phút ngày 15/10/2019, trên địa bàn thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Đình A đã dùng điện thoại di động hiệu Nokia 1280 lắp sim 0817.....789 và điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh lắp sim 0869.....881 để gửi tin nhắn đến điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu trắng lắp sim 0947.....835 và điện thoại di động hiệu Nokia 105 lắp sim 0985.....586 của Phùng Tuấn H để nhờ Hưng ghi hộ các số lô, số đề với tổng số tiền là 7.000.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trên địa bàn thành phố N; các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi theo quy định, thực hiện hành vi do lỗi cố ý. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, thấy: hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, chứng cứ buộc tội các bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Như vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Trong vụ án này hành vi phạm tội của các bị cáo là giản đơn; đối với bị cáo A là người có nhân thân sấu, lợi dụng vào kết quả xổ số kiết thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày, sử dụng điện thoại di động nhắn tin nhờ H mua số lô, số đề để cá cược đánh bạc bằng hình thức “chơi lô, đề” được thua bằng tiền do đó bị cáo giữ vai trò đầu; Bị cáo H khi được A nhắn tin nhờ mua hộ số lô, số đề, bị cáo không những không can ngăn mà còn tiếp tay, bỏ tiền ra mua hộ số lô, số đề cho An do đó bị cáo có vay trò đồng phạm giúp sức cho An.

* Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều không có;

* Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo; bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo A đã đầu thú hành vi đánh bạc. Do vậy bị cáo A được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; bị cáo H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy xét thấy rằng: Đối với bị cáo Nguyễn Đình A cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo rèn luyện cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội; Đối với bị cáo Phùng Tuấn H phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS do đó chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của BLHS “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó đối với bị cáo Nguyễn Đình A ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo 10.000.000đ để nộp ngân sách nhà nước. Đối với bị cáo Phùng Tuấn H do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen lắp sim 0817.....789; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh lắp sim 0869.....881 của Nguyễn Đình A; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 lắp sim 0985.....586; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng lắp sim 0947.....835 thu giữ của Phùng Tuấn H là công cụ mà các bị can sử dụng để mua bán số lô, số đề với nhau; Vì vậy căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS cần tịch thu hóa giá, nộp ngân sách nhà nước;

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo A đã sử dụng số tiền để đánh bạc là 7.000.000 đồng vì vậy cần buộc bị cáo nộp lại để nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 35B2-5...44 thu giữ của Vũ Hồng Q, quá trình điều tra xác định Q mượn của anh Nguyễn Thế A, cơ quan điều tra đã làm việc với anh Thế A, anh Thế A khai có cho Q mượn xe mô tô nói trên vào tối ngày 15/10/2019 đồng thời cung cấp 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 35B2-5...44 mang tên Nguyễn Thế A, chiếc xe trên Cơ quan điều tra đã chuyển cho Đội cảnh sát giao thông Công an thành phố N giải quyết theo thẩm quyền.

Các vấn đề khác:

- Quá trình điều tra Phùng Tuấn H khai nhận sau khi nhận số lô, số đề do A nhờ mua hộ thì H đi bộ ra khu vực đường P, phường N, thành phố N và ghi của người phụ nữ tên Lý, H không biết họ tên đệm, năm sinh, địa chỉ của người phụ nữ tên Lý ở đâu. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại công ty xổ số kiến thiết tỉnh Ninh Bình, kết quả công ty xổ số kiến thiết tỉnh Ninh Bình xác định công ty không ký hợp đồng với người phụ nữ tên Lý nào bán vé số tại tuyến đường P, phường N, thành phố N, đồng thời cơ quan điều tra tiến hành rà soát trên tuyến đường như H khai nhưng không có người phụ nữ nào tên L bán xổ số. Do vậy cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến người phụ nữ tên Lý là người H khai đã nhận số lô, số đề để xác minh làm rõ sau.

- Đối với Vũ Hồng Q là người được Nguyễn Đình A cho mượn chiếc điện thoại di động hiệu Nokia 105 lắp sim 0869.....881 để dùng, quá trình điều tra xác định việc A và H dùng điện thoại ghi số lô, số đề cho nhau Q không biết, do vậy Vũ Hồng Q không phải chịu trách nhiệm trong việc này.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Đình A.

- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Phùng Tuấn H.

- Điều 47 BLHS; khoản 2 các điều 106, 135 và 136 BLTTHS; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí Tòa án.

1. Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Đình A, Phùng Tuấn H phạm tội “Đánh bạc”.

1.1. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đình A 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2019; Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

1.2. Xử phạt: bị cáo Phùng Tuấn H 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

2. Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

2.1. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 03 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6. (Đặc điểm, chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày /11/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

2.2. Buộc bị cáo Nguyễn Đình A phải nộp số tiền 7.000.000 đồng để sung nộp ngân sách nhà nước.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Đình A và Phùng Tuấn H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ