vanban.org

Bản án 158/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đoàn Thanh H (tên gọi khác: B) và Trần Thị Quỳnh N (tên gọi khác: N) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2018. Xử phạt bị cáo Trần Thị Quỳnh N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (đƣợc trừ thời gian tạm giam từ ngày 02/3/2018 đến ngày 09/4/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thanh H và đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đoàn Thanh H (tên gọi khác: B) và Trần Thị Quỳnh N (tên gọi khác: N) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 158/2018/HSST
Ngày 22-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Tâm.

2. Bà Nguyễn Ngọc Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 160/2018/HSST-QĐ ngày 08 tháng 6 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Đoàn Thanh H (tên gọi khác: B), sinh năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: Số 43, đƣờng số 6, khu phố 1, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Q, sinh năm 1964 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1960; vợ tên Đỗ Thị T, sinh năm 1987; có 01 con sinh năm 2012; tiền án: Bản án hình sự số 143/2016/HSPT ngày 06/6/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 10/12/2016; tiền sự: Ngày 05/4/2015 bị Công an phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giam ngày 02/3/2018, có mặt.

2. Trần Thị Quỳnh N (tên gọi khác: N), sinh năm 1996 tại tỉnh Khánh Hòa; thƣờng trú: Thôn Đ, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1966; chồng tên Cao Trọng G, sinh năm 1991; có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 02/3/2018, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 09/4/2018, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Trần Văn Q, sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

2. Ông Đoàn Văn Q, sinh năm 1964; địa chỉ: Số 140/8 Lê Quốc H, Phƣờng 12, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Thái S, sinh năm 1987; địa chỉ: Số 123/3 Đặng Văn B, khu phố 5, phƣờng T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Đoàn Thanh H và Trần Thị Quỳnh N là bạn bè và là đối tƣợng sử dụng trái phép Methamphetamine.

Khoảng 23 giờ ngày 01/3/2018, Trần Thị Quỳnh N đến nhà nghỉ T ở khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng để thuê phòng nhƣng không có chứng minh nhân dân nên đã gọi điện nhờ Đoàn Thanh H đến thuê phòng giúp. Sau đó, H đến thuê phòng 208 cho N rồi về. Khoảng 10 giờ ngày 02/3/2018, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha biển số 59C1-777.42 đến nhà nghỉ Tđể chơi với N. Tại đây, H rủ N góp tiền mua ma túy sử dụng. N góp 1.900.000 đồng còn H 600.000 đồng, N dùng điện thoại di động Nokia 5310C-2 của H gọi cho B (không rõ nhân thân) để mua ma túy, H dùng điện thoại trên gọi cho D (không rõ nhân thân) để nhờ đi mua ma túy giúp. Duy đến phòng 208 lấy 2.500.000 đồng và số điện thoại của B. Khoảng 30 phút sau, D đƣa lại cho H 01 bịch nylon miệng kéo dính có chứa tinh thể màu trắng thì đƣợc H trả công 100.000 đồng và cho 01 ít ma túy sử dụng. N gọi điện thoại cho Nguyễn Thái Sơn nhờ mua 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy mang đến phòng 208. Tại đây, cả ba sử dụng ma túy chung. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy đã kiểm tra nhà nghỉ T, thu giữ gói nylon miệng kéo dính có chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động Nokia 5310C-2 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Vật chứng: 01 gói nylon miệng kéo dính có chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động Nokia 5310C-2 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha biển số 59C1-777.42.

Căn cứ Kết luận giám định số 144/MT-PC54 ngày 09/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có trọng lƣợng 3,3695gam, loại Methamphetamine (mẫu vật sau giám định là 3,0093gam).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dƣơng trên.

Tại Cáo trạng số 158/CT-VKS-DA ngày 24 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Đoàn Thanh H và Trần Thị Quỳnh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Đoàn Thanh H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Thị Quỳnh N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy một bì thƣ đƣợc niêm phong bên trong có Methamphetamine, trọng lƣợng sau giám định là 3,0093gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và sim số 0973428453; tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc điện thoại di động hiệu Nokia 5310C-2 màu đen.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi nhƣ cáo trạng truy tố; trong phần nói lời sau cùng, các bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy N sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 02/3/2018, tại phòng 208 nhà nghỉ T ở khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy bắt quả tang Đoàn Thanh H và Trần Thị Quỳnh N tàng trữ 01 gói nylon miệng kéo dính có chứa tinh thể màu trắng, bên trong là Methemphetamine, trọng lƣợng 3,3695gam (Kết luận giám định số 144/MT-PC54 ngày 09/3/2018 – Bút lục số 08) để sử dụng.

Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

.......

c) Heroin, Cocaine, Methemphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

.......

Hành vi của các bị cáo Đoàn Thanh H và Trần Thị Quỳnh N tàng trữ 3,3695gam Methamphetamine là ma túy bị Nhà nƣớc nghiêm cấm đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 158/CT-VKS-DA ngày 24 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc sử dụng ma túy sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe ngƣời sử dụng, tệ nạn ma túy còn gây suy yếu giống nòi, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Trong vụ án có đồng phạm, nhƣng là đồng phạm giản đơn, bị cáo Đoàn Thanh H là ngƣời rủ N cùng góp tiền để mua ma túy sử dụng chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị Quỳnh N không có. Bị cáo Đoàn Thanh H có tiền án: Ngày 06/6/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt ngày 10/12/2016, Nng chƣa đƣợc xóa án tích lại phạm tội mới, đây là tình tiết “tái phạm” đƣợc quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng N tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo Trần Thị Quỳnh N phạm tội khi đang có thai.

Về nhân thân: Các bị cáo đều là ngƣời nghiện ma túy; bị cáo Đoàn Thanh H có tiền sự, ngày 05/4/2015 bị Công an phƣờng L, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo chƣa đóng phạt. Bị cáo Trần Thị Quỳnh N là ngƣời lao động làm thuê, chƣa có tiền án, tiền sự.

Xử lý vật chứng:

- Xét một bì thƣ đƣợc niêm phong bên trong có Methamphetamine, trọng lƣợng sau giám định là 3,0093gam, là vật cấm lƣu thông cần tịch thu tiêu hủy;

- Xét 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và sim số 0973428453 là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy;

- Xét điện thoại di động hiệu Nokia 5310C-2 màu đen (không có ốp lƣng) thu giữ của bị cáo Đoàn Thanh H, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc.

- Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave Anpha biển số 59C1-777.42 là tài sản của ông Đoàn Văn Q cho bị cáo Đoàn Thanh H mƣợn sử dụng Nng không biết bị cáo sử dụng đến nơi thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho ông Q là đúng quy định.

Đối với B là ngƣời bán ma túy và D là ngƣời mua ma túy giùm H, hiện không xác định đƣợc nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh, xử lý sau. Đối với anh Trần Văn Q là chủ quản lý Nhà nghỉ T nhƣng không biết các bị cáo thuê phòng để tàng trữ ma túy nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D không xử lý là đúng quy định. Đối với Nguyễn Thanh Sơn sử dụng ma túy cùng H và N đã bị cơ quan cảnh sát điều tra xử phạt hành chính.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét các bị cáo đều là ngƣời nghiện ma túy, công việc không ổn định, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử quyết định không phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về mức hình phạt, xử lý vật chứng nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Đoàn Thanh H (tên gọi khác: B) và Trần Thị Quỳnh N (tên gọi khác: N) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thanh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2018.

- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Quỳnh N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (đƣợc trừ thời gian tạm giam từ ngày 02/3/2018 đến ngày 09/4/2018).

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy một bì thƣ đƣợc niêm phong bên trong có Methamphetamine, trọng lƣợng sau giám định là 3,0093gam; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và sim số 0973428453.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc điện thoại di động hiệu Nokia 5310C-2 màu đen (không có ốp lƣng).

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2018).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Đoàn Thanh H và Trần Thị Quỳnh N, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ