- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 158/2018/ HS-ST Ngày 10-10-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚ C CỘ NG HÒ A XÃ HỘ I CHỦ NGHĨ A VIỆ T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩ m phá n – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Xuân Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Sinh Chi; Bà Bùi Phương Hoa.
- Thư ký phiên tò a : Bà Phạm Khánh Linh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.
- Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh tham gia phiên tò a: Ông Nguyễn Văn Tam - Kiể m sá t viên.
Trong ngày 10 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thá i Bình, tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 147/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 09 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2018/QĐXXST-HS ngày 17/9/2018 đố i vớ i bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 18/6/1986; Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: thôn H, xã V, thành phố T, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1950; Con bà: Đặng Thị L, sinh năm 1950; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 09/12, sua đó ở nhà lao động tự do. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/6/2018 đến ngày 15/6/2018 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an tỉnh Thái Bình.
(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa)
* Người chứng kiến:
- Anh Bùi Văn Tr, sinh năm 1973; Trú quán: Thôn N, xã V, thành phố T (Vắng mặt).
- Anh Bùi Văn V, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn Q, xã V, thành phố T (Vắng mặt).
- Ông Đào Duy T, sinh năm 1956 và bà Đặng Thị L, sinh năm 1950; Đều trú quán: Thôn H, xã V, thành phố T ( Vắng mặt).
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a , nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 12/6/2018, Nguyễn Văn H điều khiển xe máy nhãn hiệu Exeiter, màu đen – vàng, biển số 17N2 – 6989 đi từ nhà đến khu vực cầu T, thuộc thành phố N, tỉnh N, mục đích mua ma túy là heroine để sử dụng cho bản thân. Tại đây, H gặp và mua của một người nam giới khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ 700.000 đồng được 08 gói ma túy (heroine), bên ngoài đều được gói bằng giấy bạc màu trắng và cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy về nhà, lấy trong túi quần bên phải ra 05 gói ma túy cấu giấu dưới đệm trên giường ngủ của H (để sử dụng cho bản thân). Còn 03 gói ma túy H vẫn cất giấu trong túi quần bên phải sau đó đi xe máy tìm nơi để sử dụng ma túy. Khi H đi đến khu vực tái định cư thuộc thôn H, xã V, thành phố T thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Bùi Văn Tr, anh Bùi Văn V, H tự giác lấy từ túi quần bên phải ra giao nộp cho tổ công tác 03 gói nhỏ bên ngoài đều được gói bằng giấy bạc màu trắng và khai nhận đó là heroine để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác mở kiểm tra bên trong cả 03 gói đều có chứa chất bột màu trắng dạng cục sau đó niêm phong trong phong bì ký hiệu M1. Sau đó tổ công tác yêu cầu H và mời người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã V, thành phố T làm việc. Tại đây, tổ công tác kiểm tra người H, thu tại túi quần bên trái 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C2 -01, màu trắng đen, 01 điện thoại di động 1280 màu đen; thu tại túi quần hậu bên trái 91 ví giả da màu đen bên trong có 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn H và 400.000 đồng. Kiểm tra xe máy do H điều khiển không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản quản lý phương tiện.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H tại thôn H, xã V, thành phố T qua kiểm tra thu tại dưới đệm trên giường ngủ của H 05 gói bên ngoài đều được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong cả 05 gói đều có chứa chất bột màu trắng dạng cục, tổ công tác niêm phong trong phong bì ký hiệu M2.
Bản kết luận giám định số 241/KLGĐ-PC54 ngày 12/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại heroine, có khối lượng 0,3170 gam; mẫu M2 gửi giám định là ma túy, loại heroine, có khối lượng 0,4188 gam”.
Trong quá trì nh điề u tra , truy tố và tạ i phiên tò a hôm nay , Nguyễn Văn H đã khai nhậ n toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh.
Bản cáo trạng số 156/KSĐT ngà y 11 tháng 09 năm 2018 của Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh truy tố bị cá o Nguyễn Văn H về tộ i “Tàng tr ữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H khai: Do nghiện ma túy nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 12/6/2018, Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trái phép trên người 03 gói ma túy, loại heroine, có khối lượng 0,3170 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân đã bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, Nguyễn Văn H còn tàng trữ trái phép tại chỗ ở 05 gói ma túy, loại heroine, có khối lượng 0,4188 gam với mục đích sử dụng cho bản thân.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bìnhgiữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo mứ c á n từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/6/2018. Do bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Và những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c tranh tụng tại phiên tòa, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.
[2] Về hành vi của bị cáo: Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 12/6/2018 Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ trong người 08 gói ma túy, nguồn gốc gói ma túy là bị cáo mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết tại khu vực cầu T, thuộc thành phố N, tỉnh N với giá 700.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Loại ma túy bị cáo tàng trữ là heroine với khối lượng 0,7358 gam; trong đó, bị cáo cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc 03 gói (M1 có khối lượng 0,3170 gam) và cất giấu dưới đệm giường ngủ của H 05 gói (M2 có khối lượng 0,4188 gam). Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý, niêm phong vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhận thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiêm của Nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội. Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …c) Hêrrôin, Côcain, Methamphetamin, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là loại tội phạm nghiêm trọng, do vậy cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H khai báo thành khẩn nên được áp dụng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[4] Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, đồng thời bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng của vụ án: Theo quy định tại Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán nên cần tịch thu tiêu hủy; cơ quan điều tra thu của bị cáo 01 ví giả da màu đen; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C2 - 01, màu trắng - đen đã qua sử dụng; 400.000 đồng tiền VNĐ, quá trình điều tra xác định không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục quản lý 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C2 - 01, màu trắng - đen đã qua sử dụng; 400.000 đồng tiền VNĐ để đảm bảo thi hành án; Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn H khai đã mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Exciter, biển số 17N2 - 6989 của người bạn tên H nhà ở huyện V, tỉnh T từ tối ngày 11/6/2018. Cơ quan điều tra xác định chiếc xe máy trên có chủ sở hữu hợp pháp là anh Phạm Ngọc T, sinh năm 1977, trú tại số nhà 160, tổ 01, phường H, thành phố H, tỉnh Q sử dụng từ năm 2008 đến năm 2013 anh T đã bán cho một người tên là H với giá 25.000.000 đồng, không viết giấy mua bán xe. Cơ quan điều tra chưa xác định được người tên H như Nguyễn Văn H khai, vì vậy tiếp tục xác minh, xử lý sau.
[6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn H nên không có căn cứ xử lý.
[7] Về á n phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy đị nh củ a phá p luậ t.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ T ĐỊ NH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điề u 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46; Điều 47 Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015; Điề u 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáoNguyễn Văn H phạm tội“Tà ng trữ trá i phé p chấ t ma tú y”.
2. Xử phạ t bị cá o Nguyễn Văn H 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/6/2018.
3. Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu toàn bộ số ma túy loại heroine hoàn trả sau giám định chứa trong phong bì niêm phong vật chứng số 241/KLGĐ-PC54 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình để tiêu hủy; Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H 01 ví giả da màu đen; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C2 – 01, màu trắng - đen đã qua sử dụng; 400.000 đồng tiền VNĐ, nhưng tiếp tục quản lý 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C2 – 01, màu trắng - đen đã qua sử dụng; 400.000 đồng tiền VNĐ để đảm bảo thi hành án để đảm bảo Thi hành án.
(Vật chứng trên có đặc điểm mô tả như trong biên bản giao nhận vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 11/9/2018).
4. Về á n phi:́ Bị cáoNguyễn Văn H phải nộp200.000đồ ng á n phí hì nh sự sơ thâ.̉ m
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/10/2018.
Nơi nhậ n:
| - Ngườ i tham gia tố tụ ng; - VKSND TP. Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - Sở Tư phá p tỉ nh Thá i Bì nh; - Chi cụ c THADS TP.Thái Bình; - CQTHAHS CATP Thái Bình; - CQCSĐT CATP Thái Bình; - Trại tạm giam Công an TP Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ á n. | TM. HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉ SƠ THẨ M THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Huyền |