vanban.org

Bản án 158/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 22/08/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Võ Quốc B.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 250; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 20 và Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Xử phạt: Bị cáo Võ Quốc B 15 tháng tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 19-01-2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Quốc B - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Võ Quốc B.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2018/HS-PT
Ngày 22-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trọng Hân

Các Thẩm phán: Ông Cao Quốc Chiến

Bà Trần Thị Trâm Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Danh Quàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nghĩa Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 115/2018/TLPT-HS ngày 27 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo Võ Quốc B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2018/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Võ Quốc B (Bình C, Bình Đầu B), sinh năm 1983, tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;

Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Ấp 3 , xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị H; tiền án: 01 – Ngày 08-4-2015, bị Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; Về nhân thân: Năm 2002 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang ra Quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; Năm 2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong, được xóa án tích”; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19-01-2018 cho đến nay

Bị cáo có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Thành L, Phùng Phong P và Đỗ Văn N thường xuyên đến chơi nhà của Võ Quốc B trú tại ấp 3 , xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Trong thời gian tới lui ở nhà của B, từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 11 năm 2017, Đỗ Thành L, Phùng Phong P và Đỗ Văn N thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện A, tỉnh Kiên Giang, trong đó bị cáo Võ Quốc B thực hiện hành vi phạm tội như sau:

- Khoảng 23 giờ ngày 12-10-2017, Đỗ Thành L và Phùng Phong P tiếp tục rủ nhau đi trộm cắp tài sản. P điều khiển xe mô tô chở L đi tìm tài sản lấy trộm nhưng không trộm được. Đến 04 giờ 30 phút sáng ngày 13-10-2017, cả hai đến nhà của chị Thị Pha N ở khu phố 1, thị trấn thứ B, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Lúc này, L canh đường, P vào mở cốp xe đang đậu trong nhà lấy trộm 2.000.000 đồng và 01 lắc đeo tay trọng lượng 05 chỉ vàng 18k, 01 đôi bông tai trọng lượng 0,5 chỉ vàng 18k. Sau khi trộm được tài sản, P và L chạy về nhà B rồi đưa cho B số vàng trộm được, còn số tiền 2.000.000 đồng P giữ tiêu xài cá nhân. Ngày hôm sau, B đem số vàng đi bán lấy tiền tiêu xà cá nhân hết. (Qua định giá các tài sản trên trị giá 14.366.000 đồng).

- Khoảng 01 giờ 40 phút, ngày 13-11-2017, P điều khiển xe mô tô Attila màu đen (xe P mượn của người bạn không rõ nhân thân) chở Đỗ Văn N đi tìm tài sản để lấy trộm. Cả hai đi đến nhà của ông Nguyễn Văn L ở ấp H, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. P đi vào trong nhà lấy trộm 01 Ampli nhãn hiệu Hanco, 01 đầu đĩa DVD nhãn hiệu Hanco màu trắng bạc đen rồi cả hai quay lại nhà B. Lúc này, P hỏi B cất các tài sản trộm được để ở đâu thì B chỉ nơi cho P cất giấu. Đỗ Thành L cũng đang ở nhà của B và nhìn thấy P và N mang Ampli, đầu đĩa vào cất trong nhà theo chỉ dẫn của B.

Sáng hôm sau, B kêu N đem đi bán nhưng không bán được nên tiếp tục cất giữ tại nhà của B. Ngày 14-12-2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét tại nhà của Võ Quốc B phát hiện thu giữ 01 Ampli, 01 đầu đĩa DVD có đặc điểm đúng như tài sản của ông Liệt bị mất trộm. (Qua định giá các tài sản này trị giá 2.450.000 đồng).

Ngoài ra, trong vụ án Đỗ Thành L cùng đồng bọn còn thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản khác lấy được nhiều tài sản có giá trị.

*Vật chứng trong vụ án: 01 chiếc xe mô tô, không biển kiểm soát, không có dàn mũ bảo vệ, chỉ có khung sườn và máy, số máy 80102705, số khung 000645 ; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J1; 01 Ampli nhãn hiệu Hanco và 01 đầu đĩa DVD nhãn hiệu Hanco màu trắng bạc đen. Tất cả tài sản trên đã trả cho chủ sở hữu.

*Tại bản án hình sự số: 16/2018/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Quốc B phạm tội “Chứa chấp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 250; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 20 và Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);

Xử phạt: Bị cáo Võ Quốc B 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19-01-2018.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử bị cáo Đỗ Thành L 03 năm 06 tháng tù, Phùng Phong P 02 năm 06 tháng tù và tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.

Ngày 26 tháng 5 năm 2018, bị cáo Võ Quốc B kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang thực hiện quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cho bị cáo là phù hợp quy định pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận 02 lần giữ tài sản nhằm mục đích đem bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân, nên Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo 02 tội danh “Chứa chấp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là chưa chính xác, hành vi của bị cáo chỉ phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Ngoài ra, sau khi xử sơ thẩm bị cáo động viên gia đình khắc phục số tiền 6.281.000 đồng nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang ngày 30 tháng 7 năm 2018. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù giam xuống còn 15 tháng tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, khai nhận cả 02 lần cất giữ tài sản nhằm mục đích đem tiêu thụ để lấy tiền tiêu xài cá nhân và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo bị cáo đã đúng quy định về quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về Quyết định của bản án sơ thẩm:

Khoảng 23 giờ ngày 12-10-2017, Đỗ Thành L và Phùng Phong P rủ nhau đi trộm cắp tài sản. P điều khiển xe mô tô chở L đi tìm tài sản lấy trộm nhưng không trộm được. Đến 04 giờ 30 phút sáng ngày 13-10-2017, cả hai đến nhà của chị Thị Pha N ở khu phố 1, thị trấn thứ B, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Lúc này, L canh đường, P vào mở cốp xe đang đậu trong nhà lấy trộm 2.000.000 đồng và 01 lắc đeo tay trọng lượng 05 chỉ vàng 18k, 01 đôi bông tai trọng lượng 0,5 chỉ vàng 18k. Sau khi trộm được tài sản, P và L chạy về nhà B rồi đưa cho B số vàng trộm được, còn số tiền 2.000.000 đồng P giữ tiêu xài cá nhân. Ngày hôm sau, B đem số vàng đi bán lấy tiền tiêu xà cá nhân hết. (Qua định giá các tài sản trên trị giá 14.366.000 đồng.

- Khoảng 01 giờ 40 phút, ngày 13-11-2017, Phúc điều khiển xe mô tô Attila màu đen (xe Phúc mượn của người bạn không rõ nhân thân) chở Đỗ Văn N đi tìm tài sản để lấy trộm. Cả hai đi đến nhà của ông Nguyễn Văn L ở ấp H, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Phúc đi vào trong nhà lấy trộm 01 Ampli nhãn hiệu Hanco, 01 đầu đĩa DVD nhãn hiệu Hanco màu trắng bạc đen rồi cả hai quay lại nhà B. Lúc này, P hỏi B cất các tài sản trộm được để ở đâu thì B chỉ nơi cho P cất giấu. Đỗ Thành L cũng đang ở nhà của B và nhìn thấy P và N mang Ampli, đầu đĩa vào cất trong nhà theo chỉ dẫn của B.

Sáng hôm sau, B kêu N đem đi bán nhưng không bán được nên tiếp tục cất giữ tại nhà của B. Ngày 14-12-2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét tại nhà của Võ Quốc B phát hiện thu giữ 01 Ampli, 01 đầu đĩa DVD có đặc điểm đúng như tài sản của ông L bị mất trộm. (Qua định giá các tài sản này trị giá 2.450.000 đồng).

Tuy nhiên, bị cáo khai nhận cả 02 lần cất giữ tài sản nhằm mục đích đem tiêu thụ để lấy tiền tiêu xài cá nhân, hành vi của bị cáo chỉ phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác mà có”, nhưng cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về 02 tội “Chứa chấp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là chưa chính xác. Mà chỉ xét xử bị cáo về một tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Về tính chất của hành vi vi phạm:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gián tiếp xâm phạm đến tài sản của người bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử lý tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo cũng nhận thức được việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật, ngược lại bị cáo bất chấp pháp luật đem tài sản do người khác phạm tội mà có đi tiêu thụ để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó, với tính chất và hậu quả do bị cáo gây ra cần tuyên cho bị cáo mức án nghiêm để răn đe, giáo dục.

Về yêu cầu kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, áp dụng tình tiết tăng nặng, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin xử nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Sau khi xử sơ thẩm xong, bị cáo động viên gia đình khắc phục số tiền 6.281.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang ngày 30 tháng 7 năm 2018, đây là tình tiết mới nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét thêm tình tiết khắc phục hậu quả được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cho bị cáo khi lượng hình và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về quan điểm của Kiểm sát viên: Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Võ Quốc B.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 250; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 20 và Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);

Xử phạt: Bị cáo Võ Quốc B 15 tháng tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 19-01-2018.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

4.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ