vanban.org

Bản án 157/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Liên Đỗ Ngân T- Lâm Thế V - Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 7 - 2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thạch Văn Hoà.

Ông Nguyễn Văn Kiệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bé Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2026, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2026/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2026, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Liên Đỗ Ngân T, sinh ngày 02/01/2005 (Có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt);

Căn cước số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 25/7/2025.

Địa chỉ: Số nhà D, ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Lâm Thê V, sinh ngày 27/04/2001 (Vắng mặt);

Căn cước số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 21/3/2022.

Địa chỉ: Số nhà H, ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện ngày 10 tháng 3 năm 2026, nguyên đơn bà L Đỗ Ngân T trình bày:

Bà L Đỗ Ngân T và ông Lâm Thế Văn Q nhau có làm lễ cưới theo đúng phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 17/7/2023 đăng ký tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Nay là xã T, thành phố Cần Thơ). Bà L Đỗ Ngân T và ông Lâm Thế V1 thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên cuộc sống giữa bà L Đỗ Ngân T và ông Lâm Thế V1 không hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Liên Đỗ N T yêu cầu được ly hôn với ông Lâm Thế V1.

Trong thời kỳ hôn nhân bà T và ông Lâm Thế V1 có 01 (một) con chung tên Lâm Liên Cẩm Đ, sinh ngày 09/9/2020, hiện tại con chung đang sống với bà T. Khi ly hôn bà Liên Đỗ N Thương yêu cầu Toà án giải quyết giao con chung tên Lâm Liên Cẩm Đ, sinh ngày 09/9/2020 cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trường thành, bà T không yêu cầu ông V1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Lâm Thế Văn :

Ông V1 đã được cấp, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản tường trình ý kiến, không cung cấp chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của bà T.

- Tại phiên toà sơ thẩm:

Bà L Đỗ Ngân T có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt;

Ông Lâm Thế V1 vắng mặt không có lý do.

Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Riêng bị đơn ông Lâm Thế V1 vắng mặt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, vắng mặt các phiên toà là chưa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Liên Đỗ Ngân T: Bà L Đỗ Ngân T được ly hôn với ông Lâm Thế V1. Giao con chung tên Lâm Liên Cẩm Đ, sinh ngày 09/9/2020 cho bà L Đỗ Ngân T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi; bà T không yêu cầu ông V1 phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung bà T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết; ông V1 không có ý kiến yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn bà Liên Đỗ Ngân T khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Lâm Thế V1. Bị đơn ông Lâm Thế Văn cư T1 tại Số nhà H, ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà T có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, bị đơn ông V1 được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai, vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông V1.

Về quan hệ hôn nhân: Bà T, ông Văn tự N1 kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 85 ngày 17/7/2023. Tại thời điểm kết hôn, bà T, ông V1 đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T, ông V1 được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo bà T trình bày, sau khi kết hôn bà T, ông V1 chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Ông V1 không có văn bản tường trình ý kiến về mâu thuẫn gia đình, không tham gia hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được. Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà T, ông V1 đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Thương yêu C được ly hôn với ông V1 là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Theo giấy khai sinh bản sao số: 421 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) thể hiện bà T và ông V1 có con chung tên Lâm Liên Cẩm Đ, sinh ngày 09 tháng 9 năm 2020. Bà Thương yêu C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi đủ 18 tuổi. Ông V1 không có ý kiến phản đối yêu cầu này của bà T. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung hiện đang sống cùng bà T, cuộc sống đã ổn định và cháu Lâm Liên Cẩm Đ là (Giới tính: Nữ) nên giao cháu Đ cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Do đó, yêu cầu về con chung của bà T là có căn cứ chấp nhận.

Tại Khoản 1 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và Khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Theo quy định này, ông V1 là người không trực tiếp nuôi con chung phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con chung được sống với bà T. Đồng thời, ông V1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tại Khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định này, ông V1 là người không trực tiếp nuôi con chung phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, bà T không yêu cầu ông V1 phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Ông V1 không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét, giải quyết.

Như đã nhận định, phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

- Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Liên Đỗ Ngân T được ly hôn với ông Lâm Thế V1.

2. Về con chung: Giao con chung tên Lâm Liên Cẩm Đ, sinh ngày 09/9/2020 cho bà L Đỗ Ngân T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Ông Lâm Thế V1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Liên Đỗ Ngân T không yêu cầu ông Lâm Thế V1 phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Liên Đỗ Ngân T trình bày không yêu cầu giải quyết. Ông Lâm Thế V1 không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Bà Liên Đỗ Ngân T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí, án phí số 0004928 ngày 17 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố C. Bà Liên Đỗ Ngân T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ