vanban.org

Bản án 157/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L.V.T và ông L V Q 1 Buộc ông T.X.T.T và T.T.T.T trả cho ông L.V.T và ông L V Q số tiền 4.597.468.493 đồng (bao gồm gốc là 1.980.000.000 đồng, lãi là 2.617.468.493 đồng), trả làm một lần ngay sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông L.V.T -Ông T.X.T.T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2026/DS-ST
Ngày: 23/01/2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Ngọc Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhơn

2. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hải An – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 29 tháng 12 năm 2025 và ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 305/2025/TLST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 569/2025/QĐXXST – DS ngày 02 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 617/2025/QĐST – DS ngày 29 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: 1/ Ông L.V.T (CCCD: xxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày yyyy)

Địa chỉ: Đường K, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông L.V.Q (CCCD: xxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày yyyy)

Địa chỉ: Đường Y, phường H Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của ông T và ông Q: Ông L (theo giấy ủy quyền ngày 14/8/2025, có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: 1/ Ông T.X.T.T (CCCD: xxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày yyyyy)

2/ Bà T.T.T.T (CMND: xxxxxxx do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày yyyyy)

Cùng địa chỉ: Đường T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải do ông Trần Thành Lập trình bày:

Ngày 08 tháng 12 năm 2020, nguyên đơn (ông L.V.T và ông L.V.Q) và bị đơn (ông T.X.T.T, bà T.T.T.T) có ký kết hợp đồng vay tiền với nội dung: nguyên đơn cho bị đơn vay 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng), thời hạn vay là 04 tháng kể từ ngày ký công chứng, lãi suất vay là 20%/năm tại Phòng công chứng số 6 thành phô Hồ Chí Minh, số công chứng 15003, Quyền số 12 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 8/12/2020.

Đã quá thời hạn trả tiền nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình. Đến 07/9/2023, nguyên đơn và bị đơn có đối chiếu công nợ, phần dư nợ được tính theo nợ gốc và lãi suất phát sinh theo thỏa thuận là: 4.968.000.000 đồng (bốn tỷ chín trăm sáu mươi tám triệu đồng) gồm tiền nợ gốc là là 4.320.000.000 đồng (bốn tỷ ba trăm hai mươi triệu đồng) và khoảng lãi tạm tính là 648.000.000 đồng (sáu trăm bốn mươi tám triệu đồng).

Ngày 21/9/2023, bị đơn có trả cho nguyên đơn số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Đến ngày 25/10/2023, bị đơn có trả cho nguyên đơn 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Tổng cộng bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền là 1.020.000.000 đồng.

Do tình hình kinh tế khó khăn nên sẽ tính vào nợ gốc cho bị đơn. Tính đến ngày hôm nay, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 1.980.000.000 đồng.

Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền gốc là 1.980.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất 20%/năm là 2.619.112.329 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật như sau:

+ Từ ngày 09/12/2020 đến ngày 20/9/2023: bị đơn phải thanh toán tiền lãi trên số tiền gốc là 3.000.000.000 đồng là 1.671.780.822 đồng

+ Từ ngày 21/9/2023 đến ngày 24/10/2023: bị đơn phải thanh toán tiền lãi trên số tiền gốc là 2.980.000.000 đồng là 55.517.808 đồng

+ Từ ngày 25/10/2023 đến ngày xét xử là 23/01/2026: bị đơn phải thanh toán tiền lãi trên số tiền gốc là 1.980.000.000 đồng là 891.813.699 đồng

Tổng cộng, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 4.599.112.329 đồng (bao gồm gốc là 1.980.000.000 đồng, lãi là 2.619.112.329 đồng) làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng phía bị đơn vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo Pháp luật Tố tụng trong quá trình giải quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng như sau:

Về việc tuân theo Pháp luật Tố tụng trong quá trình giải quyết của Thẩm phán: Vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền. Các phần còn lại Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc tuân theo Pháp luật Tố tụng của Hội đồng xét xử: Thời gian, địa điểm mở phiên Tòa đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử. Quá trình xét xử, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành chưa đầy đủ quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: căn cứ những chứng cứ trong hồ sơ vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại phường Bình Lợi Trung (trước đây là Phường 13, quận Bình Thạnh), Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hợp vay tài sản. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự.

- Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ án, nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do, không có ý kiến phản hồi. Do đó, Hội đồng xét xử lấy yêu cầu khởi kiện và các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn cung cấp để xem xét, giải quyết vụ án.

Đối với yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền gốc là 1.980.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 08 tháng 12 năm 2020, nguyên đơn (ông L.V.T và ông L.V.Q) và bị đơn (ông T.X.T.T, bà T.T.T.T) có ký kết hợp đồng vay tiền với nội dung: nguyên đơn cho bị đơn vay 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng), thời hạn vay là 04 tháng kể từ ngày ký công chứng, lãi suất vay là 20%/năm tại Phòng công chứng số 6 thành phô Hồ Chí Minh, số công chứng 15003, Quyền số 12 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 8/12/2020.

Đã quá thời hạn trả tiền nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình. Đến 07/9/2023, nguyên đơn và bị đơn có đối chiếu công nợ, phần dư nợ được tính theo nợ gốc và lãi suất phát sinh theo thỏa thuận là: 4.968.000.000 đồng (bốn tỷ chín trăm sáu mươi tám triệu đồng) gồm tiền nợ gốc là là 4.320.000.000 đồng (bốn tỷ ba trăm hai mươi triệu đồng) và khoảng lãi tạm tính là 648.000.000 đồng (sáu trăm bốn mươi tám triệu đồng).

Ngày 21/9/2023, bị đơn có trả cho nguyên đơn số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Đến ngày 25/10/2023, bị đơn có trả cho nguyên đơn thêm 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Tổng cộng bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền là 1.020.000.000 đồng (một tỷ không trăm hai mươi triệu đồng). Bị đơn đồng ý chuyển hoàn toàn số tiền 1.020.000.000 đồng(một tỷ không trăm hai mươi triệu đồng) thành nợ gốc. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 1.980.000.000 đồng (một tỷ chín trăm tám mươi triệu đồng).

Đối với yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi là 2.619.112.329 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Theo hợp đồng vay tiền ký kết ngày 08/12/2020 thì nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận về lãi suất là 20%/năm. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi theo lãi suất 20%/năm (0.05% ngày) là có căn cứ chấp nhận.

+ Đối với yêu cầu tính tiền lãi từ 09/12/2020 đến 20/9/2023: tiền lãi được tính trên 3.000.000.000 đồng: Hội đồng xét xử nhận thấy thời gian này bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn nên việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi trên số tiền 3.000.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận

Tiền lãi: 3.000.000.000 đồng x 20%/365 x 1016 ngày =1.670.136.986 đồng

Đối với yêu cầu tính tiền lãi từ 21/09/2023 đến 24/10/2023: tiền lãi được tính trên 2.980.000.000 đồng: Hội đồng xét xử nhận thấy ngày 21/09/2023 bị đơn thanh toán cho nguyên đơn 20.000.000 đồng nên việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi trên số tiền 2.980.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận

Tiền lãi: 2.980.000.000.000 đồng x 20%/365 x 34 ngày = 55.517.808 đồng

Đối với yêu cầu tính tiền lãi từ 25/10/2023 đến 23/01/2026: tiền lãi được tính trên 1.980.000.000 đồng: Hội đồng xét xử nhận thấy ngày 25/10/2023 bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 1.000.000.000 đồng nên việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi trên số tiền 1.980.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận

Tiền lãi: 1.980.000.000 đồng x 20%/365 x 822 ngày = 891.813.699 đồng

Đối với yêu cầu bị đơn trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy: quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả nợ mặc dù nguyên đơn đã nhắc nhở nhiều lần và tạo điều kiện trả nợ cho bị đơn. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền nợ ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ chấp nhận.

- Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án dân sự sơ theo quy định Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 và Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức và thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L.V.T và ông L V Q

1.1 Buộc ông T.X.T.T và T.T.T.T trả cho ông L.V.T và ông L V Q số tiền 4.597.468.493 đồng (bao gồm gốc là 1.980.000.000 đồng, lãi là 2.617.468.493 đồng), trả làm một lần ngay sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật.

1.2 Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

1.3 Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành số tiền nêu trên thì bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: là 112.597.468 đồng ông Trịnh Công Lý và bà Lê Thị Hà phải nộp. Hoàn trả cho ông ông L.V.T và ông Lê Văn Quý số tiền tạm ứng án phí là 56.711.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai thu số 0007669 ngày 05/8/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ