vanban.org

Bản án 157/2025/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2025/DS-ST
Ngày 28-4-2025
V/v "Tranh chấp hợp đồng
cầm cố tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Công Trường

2. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1064/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Công ty cổ phần S CÓ NGAY.

Trụ sở: 128 - N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An

Người đại diện theo pháp luật:

Ông KANOKWATPAISAL NAPAT – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền:

Ông Trần Thanh T, sinh năm 1989 (đề nghị xét xử vắng mặt), địa chỉ cư trú: Số B, đường C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 2002 (Vắng mặt), địa chỉ cư trú: Ấp Thị K, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*/ Nguyên đơn Công ty cổ phần S CÓ NGAY (gọi tắt: Công ty), người đại diện là ông Trần Thanh T trình bày:

Căn cứ Hợp đồng cầm cố số ACM231201008NA20X ngày 29/12/2023 ký giữa bà L1 Công ty TNHH S1 – Chi nhánh CCái Nước 2 theo đó bà L2 cố tài sản cho Công ty là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Vario, biển số xe 69N1-697.80, số khung MH1JM5118LK720033, số máy JM51E171980, Giấy chứng nhận đăng ký số 001737 do Công an huyện T cấp ngày 05/02/2021, số tiền 20.290.000 đồng, thời hạn cầm cố 12 tháng; gốc, lãi, phí trả hàng tháng 01 lần vào ngày 29 tây, lãi suất cầm cố 1.1%/tháng và các khoản phí phát sinh theo thoả thuận các bên tại Hợp đồng cầm cố và phí hao mòn tải sản theo các bên đã thỏa thuận. Ngoài ra, khi thanh toán quá hạn bà L11 phải chịu phí phạt bằng 150% lãi trong hạn, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại (mục 6 phụ lục Hợp đồng 8% nghĩa vụ bị vi phạm). Trường hợp chậm trả quá 10 ngày, vi phạm Hợp đồng mà không gia hạn Chi nhánh sẽ tiến hành thu hồi tài sản để thay cho nghĩa vụ vay được đảm bảo, mục đích cầm cố sử dụng mục đích cá nhân không vi phạm pháp luật, ngày hết hạn 29/12/2024. Do có nhu cầu đi lại và phục vụ công việc, ngày 29/12/2023 bà L3 có đơn gửi Công ty xin mượn lại chiếc xe để phục vụ đi lại và cam kết theo theo nội dung giấy mượn xe, tài sản mượn, thời gian mượn xe 01 tháng từ ngày 29/12/2023 đến ngày 29/01/2024, phí mượn xe 1.014.500 đồng/tháng. Công ty đã đồng ý cho khách hàng mượn tài sản nêu trên theo nguyện vọng và khách hàng cam kết thực hiện đúng nội dung đã ký cam kết trên Hợp đồng và giấy mượn xe, giấy tờ khác liên quan. Bà L4 cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận” theo yêu cầu từ Công ty. Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà L3 thanh toán cho Công ty với số tiền 6.830.000 đồng (gốc 2.891.127 đồng, lãi 429.361 đồng, phí quản lý hồ sơ 195.164 đồng, phí mượn xe 2.522.820 đồng, phí chậm thanh toán 791.528 đồng). Ngày 29/03/2024, bà L3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ Hợp đồng cầm cố, Công ty đã nhiều lần gọi điện, cử nhân viên Công ty đến gặp trực tiếp bà L5 hiện các nghĩa vụ theo Hợp đồng cầm cố đã ký hoặc bàn giao tài sản cầm cố đã mượn lại của Công ty để đảm bảo cho khoản cầm cố của bà L1 Công ty, nhưng bà L6 không hợp tác, cố ý lẫn tránh không thực hiện các nghĩa vụ theo Hợp đồng đã ký và không bàn giao tài sản cầm cố mà bà L đã mượn của Công ty theo Giấy mượn xe ngày 29/12/2023. Nay, Công ty cổ phần S CÓ NGAY khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xem xét, giải quyết: Buộc bà L10 thực hiện nghĩa vụ trả lại chiếc xe mô tô được nêu tại Mục 1 đơn này, theo cam kết trên Giấy mượn xe. Trường hợp bà L7 trả lại xe, buộc bà L10 thanh toán cho Công ty số tiền tạm tính đến ngày 02/10/2024 là 33.358.148 đồng (tiền gốc 17.398.873 đồng, tiền lãi trong hạn 1.531.101 đồng, phí quản lý hồ sơ cố định 695.955 đồng, tiền lãi quá hạn 455.807 đồng, phí mượn xe 7.622.180 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 1.91.910 đồng, chi phí tố tụng 1.962.593 đồng). Ngoài ra bà L11 phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo Hợp đồng cầm cố và Giấy mượn xe từ ngày 29/11/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp bà L7 thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, Công ty được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty. Quá trình giải quyết vụ án, Công ty cổ phần S CÓ NGAY cung cấp cho Toà án 01 (một) Bản tự khai ngày 25/4/2025 xác định lại với yêu cầu khởi kiện như sau:

- Buộc bà L phải thanh toán cho Công ty số tiền tạm tính đến ngày 25/4/2025 với tổng số tiền là 30.064.407 đồng (làm tròn 30.064.000 đồng), trong đó:

+ Tiền gốc 17.398.873 đồng.

+ Tiền lãi trong hạn 10 tháng (từ 29/03/2024 đến 29/12/2024) = 17.398.873 đồng x 1,1% x 10 tháng = 1.913.876 đồng.

+ Tiền lãi quá hạn từ 30/12/2024 đến 25/04/2025 là 3 tháng: 17.398.873 đồng x 1,65%x 3 tháng = 1.104.478 đồng.

+ Phí mượn xe: 1.014.500 đồng x 10 tháng – 493.820 đồng = 9.651.180 đồng.

Bà L11 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số nợ gốc sau ngày 25/4/2025 theo thỏa thuận trong Hợp đồng cầm cố ngày 29/12/2023 cho đến khi trả hết nợ.

Đối với các yêu cầu về việc yêu cầu bà L13: tiền phí quản lý hồ sơ cố định số tiền 695.955 đồng, chi phí tố tụng số tiền 1.962.593 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền 1.391.910 đồng, phí thanh lý trước hạn 1.217.921 đồng, chiếc xe nhãn hiệu HONDA, loại Vario, biển số xe 69N1-697.80, Công ty xin rút lại.

*/ Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều L vắng mặt, không có yêu cầu gì ở vụ án này, văn bản tố tụng của Toà án đã tống đạt cho bà L đều hợp lệ.

Tại phiên toà: Đại diện nguyên đơn Công ty cổ phần STIỀN CÓ NGAY là ông Trần Thanh T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là bà Nguyễn Thị Kiều L vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về chấp hành pháp luật của đương sự:

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều L đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cần xét xử vắng mặt đương sự nêu trên, là phù hợp.

Về thẩm quyền: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Về quan hệ pháp luật:

Nguyên đơn Công ty cổ phần STIỀN CÓ NGAY khởi kiện để yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều L phải có nghĩa vụ thanh toán tiền gốc, lãi thông qua Hợp đồng cầm cố ngày 29/12/2023 ký giữa Công ty TNHH S1(nay là Công ty cổ phần S CÓ NGAY) với bà Nguyễn Thị Kiều L.

Căn cứ Điều 309 của Bộ luật Dân sự năm 2015khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty cổ phần S CÓ NGAY, thấy rằng:

Công ty cổ phần S CÓ NGAY khởi kiện yêu cầu bà L thanh toán số tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/4/2025, là:

Số tiền 30.064.000 đồng (đại diện nguyên đơn đề nghị làm tròn số).

Trong đó: tiền gốc 17.398.873 đồng, tiền lãi trong hạn 1.913.876 đồng, tiền lãi quá hạn 1.104.478 đồng, phí mượn xe 9.651.180 đồng, yêu cầu tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh trên số nợ gốc từ ngày 25/4/2025 theo thỏa thuận trong Hợp đồng cầm cố ngày 29/12/2023 cho đến khi trả hết nợ. Lý do, chiếc xe (tài sản cầm cố) bà L8 quản lý sử dụng theo thoả thuận tại Giấy mượn xe ngày 29/12/2023, là có cơ sở chấp nhận.

Theo chứng cứ là Hợp đồng cầm cố ngày 29/12/2023 mà do Công ty cổ phần S CÓ NGAY cung cấp cho Tòa án thể hiện bà L đã cầm cố tài sản là chiếc xe nhãn hiệu HONDA, loại Vario, biển số xe 69N1-697.80, do bà L đứng tên Giấy chứng nhận đăng ký số 001737 do Công an huyện T cấp ngày 05/02/2021 và nhận số tiền cầm cố là 20.290.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bà L không có văn bản phản đối gì đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S CÓ NGAY theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quy định: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”, nên Hội đồng xét xử có cơ sở buộc bà L phải có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần S CÓ NGAY số tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/4/2025, là 30.064.000 đồng (đại diện nguyên đơn đề nghị làm tròn số), trong đó: tiền gốc 17.398.873 đồng, tiền lãi trong hạn 1.913.876 đồng, tiền lãi quá hạn 1.104.478 đồng, phí mượn xe 9.651.180 đồng, buộc bà L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số nợ gốc từ ngày 25/4/2025 theo thỏa thuận trong Hợp đồng cầm cố ngày 29/12/2023 cho đến khi trả hết nợ.

Như vậy, sau khi bà L5 hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Công ty cổ phần STIỀN CÓ NGAY, thì Công ty cổ phần S CÓ NGAY có trách nhiệm trả lại cho bà L12 gốc Giấy chứng nhận đăng ký số 001737 do Công an huyện T2, tỉnh Cà Mau cấp đứng tên Nguyễn Thị Kiều L9 05/02/2021.

Xét, Công ty cổ phần S CÓ NGAY xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bà L trả: tiền phí quản lý hồ sơ cố định số tiền 695.955 đồng, chi phí tố tụng số tiền 1.962.593 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền 1.391.910 đồng, phí thanh lý trước hạn 1.217.921 đồng, chiếc xe nhãn hiệu HONDA, loại Vario, biển số xe 69N1-697.80, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217; khoản 3 Điều 218; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đình chỉ yêu cầu khởi kiện này của Công ty cổ phần S CÓ NGAY, là phù hợp.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S CÓ NGAY, về án phí được xử lý như sau:

- Công ty cổ phần S CÓ NGAY được nhận lại tiền tạm ứng án phí.

- Buộc bà L phải chịu án phí dân sự có giá ngạch số tiền 1.503.200 đồng (30.064.000 đồng x 5%).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các điều 217, 218, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 309, 311, 312, 314 của Bộ luật Dân sự năm 2015Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S CÓ NGAY.

Buộc bà Nguyễn Thị Kiều L10 có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần S CÓ NGAY tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/4/2025, với tổng số tiền là 30.064.000 đồng (Ba mươi triệu không trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo sau ngày 25/4/2025 bà Nguyễn Thị Kiều L11 phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn phát sinh trên số nợ gốc theo thỏa thuận trong Hợp đồng cầm cố số ACM231201008NA20X ngày 29/12/2023 cho đến khi trả hết nợ.

Buộc Công ty cổ phần S CÓ NGAY trả cho bà Nguyễn Thị Kiều L12 gốc Giấy chứng nhận đăng ký số 001737 do Công an huyện T cấp đứng tên Nguyễn Thị Kiều L9 05/02/2021.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty cổ phần S CÓ NGAY về việc yêu cầu bị đơn là bà Nguyễn Thị Kiều L13: tiền phí quản lý hồ sơ cố định số tiền 695.955 đồng, chi phí tố tụng số tiền 1.962.593 đồng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán số tiền 1.391.910 đồng, phí thanh lý trước hạn 1.217.921 đồng, chiếc xe nhãn hiệu HONDA, loại Vario, biển số xe 69N1-697.80.

2/ Về án phí:

Công ty cổ phần S CÓ NGAY được nhận lại tiền tạm ứng án phí số tiền 754.000 đồng (Bảy trăm năm mươi bốn ngàn đồng), theo Biên lai thu 0005017 ngày 10/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Buộc bà Nguyễn Thị Kiều L10 chịu án phí dân sự có giá ngạch số tiền 1.503.200 đồng (Một triệu năm trăm lẻ ba ngàn hai trăm đồng – Chưa nộp).

3/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là Công ty cổ phần S CÓ NGAY và bị đơn là bà Nguyễn Thị Kiều L14 quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ