vanban.org

Bản án 157/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Long An Tuyên án 08/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hằng và đồng phạm "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2023/HS-PT
Ngày: 08-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm

Các Thẩm phán:

Ông Lê Hùng Cường

Ông Nguyễn Văn Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 136/2023/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023. Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H và Đào Quốc K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2023/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Thị H, tên gọi khác: không, sinh năm 1985, tại Bắc Giang. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1949 (đã chết) và bà Thạch Thị Đ, sinh năm 1953; chồng Phạm Văn H2, sinh năm 1976 (đã ly hôn năm 2023); con 02 người, sinh năm 2006 và năm 2015; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0009909/QĐ-XPHC ngày 04-3-2020 của Trưởng Công an phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Nguyễn Thị Hằng số tiền 1.500.000 đồng về hành vi bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô đề. Ngày 17-3-2020 đã nộp tiền phạt xong.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Đào Quốc K, tên gọi khác: không, sinh năm 1963, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: Số B, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Tấn H3, sinh năm 1929 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1930; vợ Lê Thị H4, sinh năm 1973; có 03 người con, người con lớn nhất sinh năm 2001, người con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không;

Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 83/QĐ-XPHC ngày 23-02-2022 của Trưởng Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, xử phạt Đào Quốc K số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” trái phép, đã nộp phạt xong ngày 25-3-2022.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, vụ án còn có 07 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 7 năm 2022, Nguyễn Thị H quen biết với một người phụ nữ có tên là H (không xác định được nhân thân, lai lịch) tại tỉnh Bắc Giang. Qua đó, H giới thiệu cho Nguyễn Thị H biết, H làm thầu thu mua số đề mở thưởng của các đài xổ số kiến thiết các tỉnh Miền Bắc, Miền T và M. Nếu Nguyễn Thị H có nhu cầu ghi số đề, rồi chuyển phơi đề qua cho H, trường hợp những người mua số đề trúng thưởng thì H sẽ cho Nguyễn Thị H hưởng 03% đối với số tiền mà những người mua số đề trúng thưởng, nếu những người mua số đề không trúng thưởng thì H sẽ cho Nguyễn Thị H mỗi tháng là 5.000.000 đồng tiền công ghi số đề. H quy định tỷ lệ thắng thua như sau: Đối với đề 02 con số, tỷ lệ thắng là 01 ăn 72; xỉu chủ và đề 03 con số tỷ lệ thắng 01 ăn 620; số đá tỷ lệ thắng 01 ăn 520. Khi nào Nguyễn Thị H có nhu cầu ghi số đề hưởng tiền huê hồng thì liên lạc với H, H sẽ hướng dẫn cách thức tính tiền số đề của người mua, Nguyễn Thị H đồng ý thực hiện.

Khoảng cuối tháng 7 năm 2022, bị cáo Nguyễn Thị H từ tỉnh Bắc Giang đến thuê nhà ở trọ tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Khoảng đầu tháng 8 năm 2022, do không có tiền để tiêu xài nên Nguyễn Thị H nảy sinh ý định ghi số đề rồi giao lại cho H để hưởng tiền huê hồng. Nguyễn Thị H tải ứng dụng Telegram về máy điện thoại di động, đăng ký tài khoản và gửi tên đăng nhập mật khẩu qua cho H. Sau khi đăng ký tài khoản và kết bạn với H xong, H hướng dẫn Nguyễn Thị H nếu những người mua số đề đến mua số đề và để khuyến khích những người mua số đề tiếp tục mua các lần sau thì giảm cho những người mua số đề là 20% trên tổng số tiền mua số đề của những người mua số đề. Nguyễn Thị H và H thỏa thuận với nhau hình thức giao phơi là thông qua ứng dụng tin nhắn Telegram, đối với các đài xổ số Miền Nam thì giao phơi cho H trước 16 giờ 10 phút, còn đối với đài xổ số Miền Bắc thì giao phơi trước 18 giờ 10 hằng ngày. Tiền thu được của những người mua số đề hằng ngày, Nguyễn Thị H giữ đến khi H nhắn tin số tài khoản thì Nguyễn Thị H sẽ chuyển tiền cho H (số tài khoản Nguyễn Thị H không nhớ). Sau khi đã nắm được cách thức ghi số đề, Nguyễn Thị H chuẩn bị viết, cùi giấy có bìa màu xanh bên trong có nhiều tờ giấy màu trắng, màu hồng đan xen lẫn nhau dùng để ghi phơi đề, máy tính cầm tay để tính tiền phơi đề, máy Laptop để dò kết quả mở thưởng. Ngoài ra, Nguyễn Thị H còn chuẩn bị một cái tủ nhôm có dán chữ “vé số” đặt trước nhà trọ của Nguyễn Thị H để khi những người mua số đề đến mua vé số thì H sẽ thông báo cho những người này biết là H có bán số đề, để những người này có mua số đề thì mua. Hằng ngày, H ngồi tại bàn đối diện với cửa chính nhà trọ đợi những người mua số đề đến để bán số đề.

Trong ngày 11-9-2022, Nguyễn Thị H trực tiếp ghi bán số đề của các đài xổ số kiến thiết các tỉnh Tiền Giang, Kiên Giang, Đ và đài M mở thưởng vào ngày 11-9-2022 cho những người mua số đề cụ thể như sau:

1. Đào Quốc K mua số đề đài Kiên Giang các số: Số đá (86-24), (86-42), (86-09), số tiền 1.000 đồng, tổng cộng 108.000 đồng; số 10, 24, 42, 86, bao lô số tiền 2.000 đồng, tổng cộng 108.000 đồng; số 86 bao lô số tiền 5.000 đồng, tổng cộng 90.000 đồng; số 09 bao lô số tiền 8.000 đồng, tổng cộng 144.000 đồng. Tổng số tiền trên phơi đề của K mua là 450.000 đồng, H thu 360.000 đồng.

2. Tăng Kim H5 mua số 29, 69 bao lô đài Tiền Giang và Kiên Giang với số tiền 20.000 đồng. Tổng cộng số tiền trên phơi đề của Tăng Kim H5 mua là 720.000 đồng, H thu 576.000 đồng.

3. Giang Văn T1 mua số 54 đá 35 đài Tiền Giang, Kiên Giang với số tiền 2.000 đồng. Tổng cộng số tiền trên phơi đề của Giang Văn T1 mua là 144.000 đồng, H thu 116.000 đồng.

4. Phạm Văn B mua số 372 xỉu chủ số đề đài Tiền Giang, Kiên Giang với số tiền 15.000 đồng. Tổng số tiền trên phơi đề của Phạm Văn B mua là 60.000 đồng, H thu 48.000 đồng.

5. Lê Văn L mua số đề đài Tiền Giang, Kiên Giang các số sau: Số đá (74-75-76); (82-83-38), (76-36-86); (67-86-68) đài Kiên Giang, Tiền Giang số tiền 1.000 đồng, tổng cộng 864.000 đồng. Số đá (79-78); (29-28); (12-21): (07-05); (57-75); (35-55);(76-85) (50-51) đài Kiên Giang, Tiền Giang số tiền 1.000 đồng, tổng cộng 570.000 đồng. Số đá (67-76) đài K2, Tiền Giang, số tiền 5.000 đồng, tổng cộng: 360.000 đồng. Tổng số tiền trên phơi đề của Lê Văn L mua là 1.800.000 đồng, H thu 1.444.000 đồng.

6. Lê Văn T2 mua số 38 bao lô đài Kiên Giang, Tiền Giang với số tiền 10.000 đồng. Tổng cộng số tiền trên phơi đề của Lê Văn T2 mua là 360.000 đồng, H thu 288.000 đồng.

Ngoài ra, còn 08 người mua số đề (không xác định nhân thân, lai lịch) tham gia mua số đề đài Tiền Giang, Kiên G và 01 số Đ với tổng số tiền là 2.809.000 đồng, H thu được 756.000 đồng, còn lại những người mua số đề chưa trả tiền.

Đến khoảng 16 giờ 10 cùng ngày, Nguyễn Thị H tổng hợp tất cả các số đề gửi qua ứng dụng Telegram cho H, riêng số đề đài Hà Nội thì H chưa gửi. Khi đã chuyển phơi đề xong H dùng Laptop dò kết quả xổ số các đài Tiền Giang, Kiên Giang, Đ kết quả: Giang Văn T1 mua số 54-35 trúng thưởng số tiền 1.040.000 đồng, Lê Văn L mua số 74-75-76 trúng thưởng 520.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là 1.560.000 đồng.

Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày khi kết quả mở thưởng kết thúc, H đang tiếp tục ghi số đề đài Hà Nội thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Như vậy: Tổng số tiền trên phơi đề Nguyễn Thị H tổ chức ghi cho những người mua số đề tham gia đánh bạc với số tiền là: 7.903.000 đồng, gồm: Tổng số tiền mua số đề của Đào Văn K1, Tăng Kim H5, Giang Văn T1, Phan Văn B1, Lê Văn L, Lê Văn T2 là 3.534.000 đồng; tổng số tiền trúng thưởng của Giang Văn T1, Lê Văn L là 1.560.000 đồng; tổng số tiền của những người mua số đề (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) là 2.809.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2023/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, đã xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị H và Đào Quốc K phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; các điểm i và s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; các điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đào Quốc K 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, về án phí và về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09-8-2023 các bị cáo Đào Quốc K, Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và thay đổi hình phạt bằng phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Thị H và Đào Quốc K không rút kháng cáo. Các bị cáo trình bày, trước đây kháng cáo yêu cầu được phạt tiền nhưng hoàn cảnh kinh tế của gia đình khó khăn không có khả năng nộp phạt, nên thay đổi yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án như sau:

- Về hình thức và thủ tục kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Đào Quốc K đúng thời hạn và đúng quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

- Về nội dung vụ án: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo H và K phạm tội “Đánh bạc” là xét xử đúng người, đúng tội, không oan cho các bị cáo. Mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, mỗi bị cáo đều có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Xét các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nơi cư trú rõ ràng và có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo H và K theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Các bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các bị cáo Nguyễn Thị H và Đào Quốc K kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.

[2] Về nội dung vụ việc và xét yêu cầu kháng cáo:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo H và K khai nhận như sau:

- Bị cáo K có một tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xóa. Ngày 11-9-2022, bị cáo K mua số đề do bị cáo H bán với tổng số tiền là 450.000 đồng, nhưng chỉ trả cho Hằng số tiền 360.000 đồng. Kết quả không trúng đề.

- Ngày ngày 11-9-2022, bị cáo H trực tiếp ghi bán số đề cho những người mua số đề gồm các ông bà: Đào Quốc K mua số đề với số tiền là 450.000 đồng, H thu 360.000 đồng; Tăng Kim H5 mua số đề với số tiền là 720.000 đồng, H thu 576.000 đồng; Giang Văn T1 mua số đề với số tiền là 144.000 đồng, H thu 116.000 đồng; Phạm Văn B mua số số đề với số tiền là 60.000 đồng, H thu 48.000 đồng; Lê Văn L mua số đề với số tiền là 1.800.000 đồng, H thu 1.444.000 đồng; Lê Văn T2 mua số đề với số tiền là là 360.000 đồng, H thu 288.000 đồng. Ngoài ra, còn bán số đề cho 08 người khác không biết rõ nhân thân với tổng số tiền là 2.809.000 đồng, H thu 756.000 đồng, số tiền còn lại những người này chưa trả. Kết quả: Giang Văn T1 trúng thưởng với số tiền là 1.040.000 đồng và Lê Văn L trúng thưởng với số tiền là 520.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày khi kết quả mở thưởng kết thúc, H đang tiếp tục ghi số đề đài Hà Nội thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Xét, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung án sơ thẩm đã nêu. Do đó, cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự xét xử đúng người, đúng tội, không oan cho bị cáo.

Xem xét nhân thân, tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo để tuyên phạt mỗi bị cáo với mức án như trên là thỏa đáng.

[2.2] Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:

- Tại cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo K có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị bệnh khớp và cao huyết áp đang điều trị; có giấy công nhận “Gia đình văn hóa” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét như sau:

+ Bị cáo H cung cấp: Kết quả siêu âm đang mang thai; quyết định ly hôn và đang nuôi 02 người con nhỏ; gia đình thuộc diện hộ nghèo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Bị cáo K cung cấp: Giấy xác nhận có mẹ ruột là bà Nguyễn Thị N bị khuyết tật nặng và đang do bị cáo chăm sóc, nuôi dưỡng; giấy xác nhận có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng và đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, các bị cáo H và K có đủ điều kiện được hưởng án treo. Việc cho các bị cáo được hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo sửa một phần của bản án sơ thẩm về hình phạt như Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị. Theo hướng, giữ nguyên mức hình phạt tù, nhưng cho hưởng án treo, cũng có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo để trở thành người công dân có ít cho xã hội.

[3] Từ những căn cứ và nhận định trên: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo Đào Quốc K và Nguyễn Thị H. Sửa một phần của Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2023/HS-ST ngày 09-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về phần hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo Nguyễn Thị H và Đào Quốc K không phải chịu án phí do kháng cáo được chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo Đào Quốc K và Nguyễn Thị H. Sửa một phần của Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2023/HS-ST ngày 09-8-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về phần hình phạt đối với bị cáo.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị H và Đào Quốc K phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; các điểm i, n và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày 08-12-2023.

Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị H có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Thị H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị H vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; các điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đào Quốc K 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày 08-12-2023.

Giao bị cáo Đào Quốc K cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đào Quốc K có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đào Quốc K cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp bị cáo Đào Quốc K vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.

2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo Nguyễn Thị H và Đào Quốc K không phải chịu án phí.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ