- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Phước Ng về việc xin ly hôn anh Lê Trọng H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157/2023/HNGĐ-ST Ngày 10 – 7 – 2023 Về việc xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu. Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Nhi.
- Ông Nguyễn Hoàng Kha.
- Thư ký phiên toà: Bà Tô Huyền Trang, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 10 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Phước Ng, sinh năm 1986 (có mặt).
Địa chỉ nơi cư trú: đường L, khóm B, phường N, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Lê Trọng H, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ nơi cư trú: ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, chị Trương Thị Phước Ng trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Trọng H chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/6/2017. Trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về tiền bạc, anh H cờ bạc làm cho gia đình khốn khổ, cuộc sống không còn hợp nhau và đã ly thân từ năm 2021. Nay chị xét thấy cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn tình cảm nên chị yêu cầu ly hôn anh H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Cẩm M, sinh ngày 10/11/2017; Lê Nguyên H’, sinh ngày 16/3/2020, hiện 02 cháu đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng.
Tài sản chung: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị khai không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.
- Đối với anh Lê Trọng H, mặc dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ nhiều lần đến phiên tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vụ án nhưng anh H vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng: Anh Lê Trọng H đã được niêm yết hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng anh vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Trương Thị Phước Ng và anh Lê Trọng H chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tại số 107 ngày 01/6/2017 nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận bảo vệ. Theo chị Ng trình bày, trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về tiền bạc, anh H cờ bạc làm cho gia đình khốn khổ, cuộc sống không còn hợp nhau và đã ly thân từ năm 2021. Nay chị xét thấy cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn tình cảm nên chị yêu cầu ly hôn anh H. Đối với anh H không đến Tòa án tham gia phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc chị Ng xin ly hôn. Xét thấy: Đời sống hôn nhân của anh, chị đã không còn, mâu thuẫn là có xảy ra, anh chị có thời gian dài ly thân, anh H không có biện pháp hàn gắn vợ chồng, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ng, cho chị được ly hôn anh H.
Về con chung: Chị Ng xác định có 02 con chung tên Lê Cẩm M, sinh ngày 10/11/2017; Lê Nguyên H, sinh ngày 16/3/2020, hiện 02 cháu đang sống với chị Ng. Khi ly hôn, chị Ng yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung. Đối với anh H không đến Tòa án cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng chăm sóc, con chung. Xét thấy, hiện 02 cháu M và H đang sống với chị Ng, tránh xáo trộn cuộc sống sinh hoạt nên Hội đồng xét xử thống nhất giao 02 cháu M và H cho chị Ng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Ng không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Ng xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét;
Về nợ chung: Chị Ng khai vợ, chồng không nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng nên không đặt ra giải quyết.
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Phước Ng về việc xin ly hôn anh Lê Trọng H.
- Về con chung: Giao 02 cháu Lê Cẩm M, sinh ngày 10/11/2017; Lê Nguyên H, sinh ngày 16/3/2020 cho chị Trương Thị Phước Ng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê Trọng H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Ng xác định không có.
- Về nợ chung: Chị Ng khai không nợ ai.
- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị Trương Thị Phước Ng phải chịu 300.000đ. Ngày 23 tháng 02 năm 2023, chị Ng đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 0002889 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nên được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Tp.Cà Mau; - Các đương sự; - UBND phường 8, Tp. Cà Mau, tỉnh Cà Mau; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Thu |