- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27 – 9 - 2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Sương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thu
2. Ông Nguyễn Xuân Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 501/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/9/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T sinh năm: 1990 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm: 1990. (Vắng mặt)
ĐKTT: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú hiện nay: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hoàng Thị T trình bày: bà và ông Nguyễn Ngọc B tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình.
Quá trình chung sống ông bà không có hạnh phúc, mà thường nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp; vợ chồng thường gây gổ, cãi vã, không tôn trọng nhau; ông B còn hay đe dọa, quấy rối bà T nơi ở phòng trọ cũng như nơi làm việc. Bà đã khuyên giải nhiều lần nhưng ông B không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ năm 2020 đến nay, ông bà không còn chung sống với nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm, chăm sóc đến ai. Tháng 4/2023, bà nộp đơn yêu cầu ly hôn một lần, nhưng sau đó bà muốn cho ông B cơ hội đoàn tụ để xây dựng gia đình. Tuy nhiên, thời gian sau ông B vẫn không thay đổi tính nết, tình cảm vợ chồng vẫn không thể hòa thuận nên nay bà yêu cầu được ly hôn với ông B.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Ngọc B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng ông B vẫn vắng mặt không có lý do; Ông B cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.
* Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, còn bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Hoàng Thị T ly hôn với ông Nguyễn Ngọc B. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Hoàng Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Ngọc B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.
Về thẩm quyền giải quyết: Bà Hoàng Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc B; Tại Thông báo số 000317/TB ngày 22/11/2021 của Công an xã X về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú đối với ông Nguyễn Ngọc B thể hiện nơi tạm trú mới: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (thời gian từ ngày 01/11/2021 đến ngày 01/11/2023). Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoảng 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị T và ông Nguyễn Ngọc B tự nguyện kết hôn vào ngày 11/01/2018, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình, ông bà thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định, nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Bà T cho rằng sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp; vợ chồng thường gây gổ, cãi vã, không tôn trọng nhau; ông B còn hay đe dọa, quấy rối bà T tại phòng trọ cũng như nơi làm việc. Bà đã khuyên giải nhiều lần nhưng ông B không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ năm 2020 đến nay, ông bà không còn chung sống với nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm, chăm sóc đến ai. Tháng 4/2023, bà nộp đơn yêu cầu ly hôn một lần, nhưng sau đó bà muốn cho ông B cơ hội đoàn tụ để cùng xây dựng gia đình nhưng sau đó ông B vẫn không thay đổi tính nết, tình cảm vợ chồng vẫn không thể hòa thuận nên nay bà yêu cầu được ly hôn với ông B. Theo kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Ông Nguyễn Ngọc B và bà Hoàng Thị T có sinh sống tại ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, vợ chồng có mâu thuẫn hay không thì ban ấp không nắm được vì ông bà không trình báo địa phương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập ông B để làm việc, nhưng ông B đều vắng mặt không lý do. Ông B không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà T; không có yêu cầu gì về con chung, tài sản chung và nợ chung; ông B cũng không cung cấp chứng cứ, tài liệu chứng minh vợ chồng không có mâu thuẫn. Qua đó, cho thấy ông B bỏ mặc, thờ ơ trong quan hệ hôn nhân với bà T. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; có nghĩa vụ sống chung với nhau. Như vậy, bà T và ông B đã không thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Hoàng Thị T trình bày không có con chung, tài sản chung, nợ chung; ông Nguyễn Ngọc B không có lời khai, không có văn bản yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Án phí: Bà T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các điều 8, 9, 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị T.
1. Chấp nhận cho bà Hoàng Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc B.
Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 01/2018 ngày 11/01/2018 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình cấp cho bà bà Hoàng Thị T và ông Nguyễn Ngọc B không còn giá trị pháp lý, kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.
2. Tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
3. Về án phí: Bà Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0008120 ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - UBND phường, xã, thị trấn (nơi đăng ký kết hôn); - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Sương |