vanban.org

Bản án 157/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thu L và ông Nguyễn Việt Th.

2 - Về con chung: Hiện đã thành niên nên không đặt ra xem xét việc nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng. 3 - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L xin ly hôn a T"
  • Tòa quyết gì? 1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thu L và ông Nguyễn Việt Th.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23 – 5 – 2023
V/v “Tranh chấp của nam, nữ
chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Kim Lên

2. Bà Lê Trường An

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Minh Chiến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau.

Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 292/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu L, sinh năm: 1973 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp LT, xã PL, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Việt Th, sinh năm: 1968 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp LT, xã PL, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Nguyễn Thu L ngày 20/4/2023, bà L trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Việt Th chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 1999, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định. Trong quá trình chung sống, bà và ông Th luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả, không thể hòa hợp được với nhau nên bà và ông Th không còn chung sống vợ, chồng khoảng năm nay.

Từ nội dung trên, bà nhận thấy tình cảm của bà và ông Th không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống và duy trì mối quan hệ vợ, chồng được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được chấm dứt quan hệ vợ, chồng với ông Th.

- Về con chung: Bà xác định giữa bà và ông Th có 03 người con chung là Nguyễn Việt Nh, sinh năm 2000, Nguyễn Hoàng D, sinh năm 2001, Nguyễn Thùy Nh, sinh năm 2003. Hiện các con bà và ông Th đã thành niên nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà xác định tự thỏa thuận.

- Về nợ chung: Bà khai nhận giữa bà và ông Th không có nợ chung và không ai nợ lại bà và ông Th.

* Trong đơn xin vắng mặt ngày 11/5/2023, ông Nguyễn Việt Th trình bày:

Về tình trạng hôn nhân, con chung, tài sản, nợ đúng như bà L trình bày, giữa ông và bà L không còn duyên nợ nên đồng ý chấm dứt quan hệ vợ, chồng. Do điều kiện làm thuê ở xa, ông không về tham gia phiên tòa được nên ông yêu cầu Tòa án không tổ chức công khai chứng cứ và hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng dân sự: Về loại việc và thẩm quyền của Toà án: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thu L và ông Nguyễn Việt Th là “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với việc vắng mặt đương sự: Xét thấy bà Nguyễn Thu L và ông Nguyễn Việt Th có yêu cầu xin được vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà L và ông Th theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Trên thực tế, bà Nguyễn Thu L và ông Nguyễn Việt Th có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 1999 đến 2022. Theo bà L và ông Th xác định, giữa ông, bà không đăng ký kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân của bà L và ông Th đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Cho nên việc kết hôn là không thỏa mãn về mặt hình thức, nay bà L và ông Th có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn, về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong thời gian chung sống, ông, bà luôn bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình và thường xuyên cải vã, gây bất hòa với nhau mà không bên nào có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn. Bên cạnh đó, bà L và ông Th xác định tình cảm vợ, chồng giữa ông, bà không còn nên ông, bà đã tự ly thân nhiều tháng qua.

Theo tinh thần tại điểm b khoản 3 của Nghị quyết 35 của Quốc hội quy định: Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, nam và nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ, chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Mặt khác, căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con ... thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét mâu thuẫn thực tế của bà L và ông Th đến mức trầm trọng, đời sống chung hiện tại cũng không còn nên mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ, chồng.

Về con chung: Xét thấy cháu Nh, cháu D, cháu Nh đã thành niên nên không đặt ra xem xét việc trông nom, chăm sóc và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về tài sản chung: Bà L và ông Th xác định tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà L và ông Th khai nhận giữa ông, bà không có nợ chung và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà L là nguyên đơn nên bà phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.

Về quyền kháng cáo: Bà L và ông Th được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thu L và ông Nguyễn Việt Th.

2 - Về con chung: Hiện đã thành niên nên không đặt ra xem xét việc nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng.

3 - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

4 - Về nợ chung: Không có.

5 - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà Nguyễn Thu L phải chịu 300.000đ, ngày 20 tháng 4 năm 2023, bà L đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên lai số : 6600 được đối trừ chuyển thu.

6 - Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thu L và ông Nguyễn Việt Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ