- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc K - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| ` ` + TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 157/2022/HS-ST Ngày 30-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đình Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Văn Xây;
Bà Lăng Thị Lê Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hữu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Trần Ngọc K (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 11 năm 1987 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số *, đường T, khu T1, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Số */*, đường B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn A, sinh năm 1954 và bà Tiền Thị M, sinh năm 1957; có vợ là Ngô Ngọc D, sinh năm 1989 và có 01 con, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 76/2012/HS-ST ngày 28-9-2012 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng về tội Tổ chức đánh bạc (đã được xóa án tích), chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật. bị bắt để tạm giữ, tạm giam từ ngày 02-8-2022 đến nay, có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Hà Minh T, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 20 phút, ngày 02-8-2022, Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà */*, đường B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang Trần Ngọc K đang có hành vi vi phạm pháp luật. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Trần Ngọc K 01 vỏ bao diêm “THONG NHAT” bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa 02 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng được dán ngoài bằng băng dính màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, lắp sim số 0853.388.838.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Ngọc K thu giữ:
+ Trên đầu giường ngủ trong phòng ngủ của Trần Ngọc K 01 hộp sắt màu xanh kích thước 02 cm x 03 cm x 08 cm trên bề mặt có ghi chữ Doublemint bên trong có: 01 túi nilon màu trắng kích thước 03 cm x 3,5 cm chứa chất tinh thể màu trắng và 01 cục chất bột màu hồng; 01 túi nilon màu trắng kích thước 2,5 cm x 2,5 cm chứa chất tinh thể màu trắng.
+ Trong tủ quần áo trong phòng ngủ: 01 cân tiểu ly điện tử màu xám.
+ 01 chai nhựa nắp có gắn vòi hút nhựa ở phía sau tủ đựng quần áo trong phòng ngủ.
Tại bản kết luận giám định số 277/KL-KTHS ngày 04-8-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:
+ Phong bì thư ký hiệu số 01 có: 02 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,381 gam (đã trừ bì);
+ Phong bì thư ký hiệu số 02 có: Chất tinh thể màu trắng và 01 cục chất bột màu hồng đựng trong 01 túi nilon gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,129 gam (đã trừ bì); chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon gửi giám định là chất ma túy Ketamine, có khối lượng 0,293 gam (đã trừ bì).
Tại Cơ quan điều tra, Trần Ngọc K khai nhận: Khoảng trưa ngày 31-7-2022 Trần Ngọc K đến khu vực ngã *, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn gặp và mua với một người đàn ông tên Trung (không rõ tên tuổi, địa chỉ và nơi ở) 05 viên ma túy ngựa giá 400.000 đồng; 0,5 gam ma túy đá giá 400.000 đồng và 01 túi ma túy Ketamine giá 500.000 đồng, Trần Ngọc K đã sử dụng hết 2,5 viên ma túy ngựa và một lượng nhỏ ma túy đá, số còn lại Trần Ngọc K cất giấu trong nhà nhằm mục đích bán kiếm lời. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 02-8-2022, Trần Ngọc K đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi của một đối tượng nam giới từ số điện thoại 0562.437.217 gọi đến đặt mua 500.000 đồng ma túy ngựa và đá. Trần Ngọc K lấy 02 viên ma túy ngựa và một lượng nhỏ ma túy đá cho vào 01 túi nilon màu trắng, bọc băng dính đen xung quanh rồi cho vào vỏ bao diêm “THONG NHAT”, vừa đi ra khỏi nhà thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại cáo trạng số 147/CT-VKS ngày 10 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn để xét xử đối với bị cáo Trần Ngọc K về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn luận tội bị cáo Trần Ngọc K về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghi ̣ xử phạt bị cáo Trần Ngọc K từ 02 năm 08 tháng đến 03 năm tù. Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có tài sản riêng. Về vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự, đề nghị tịch thu để tiêu hủy gồm: 02 phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định; 01 vỏ bao diêm “THONG NHAT”; 01 hộp sắt màu xanh; 01 cân tiểu li điện tử màu xám; 01 chai nhựa nắp có gắn vòi hút nhựa. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động IPHONE màu vàng, lắp kèm sim số thuê bao 0853.388.838.
Về án phí, đề nghị: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bi ̣ cáo nói lờ i nói sau cùng xin Hô ̣i đồng xét xử giảm nhe ̣ mứ c hinh pha ̣̀
t cho bi ̣ cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã được tống đạt các văn bản quyết định tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Hồi 15 giờ 20 phút ngày 02-8-2022, tại khu vực trước cửa số nhà */*, đường B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn Trần Ngọc K đang thực hiện hành vi bán trái phép 0,381 gam chất ma túy Methamphetamine thì bị phát hiện, bắt quả tang. Cùng ngày khám xét chỗ ở thu giữ 0,129 gam chất ma túy Methamphetamine và 0,293 gam chất ma túy Ketamine Trần Ngọc K chưa kịp tiêu thụ, tổng cộng thu giữ đối với bị cáo là 0,803 gam chất ma túy. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận bản thân có chất ma túy là mua với người khác về để bán cho người khác kiếm lời và bị cáo đang chuẩn bị bán chất ma túy thì bị bắt giữ. Như vậy đã đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến an ninh trật tự xã hội và quyền quản lý tân dược của Nhà nước, gây bất bình và dư luận xấu trong nhân dân và gián tiếp gây những tệ nạn xấu trong xã hội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội mới. Do đó, đây cũng là tình tiết xem xét khi áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung, qua xác minh tại biên bản ngày 18-10-2022 xác định bị cáo không có tài sản riêng. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng gồm: 02 phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định; 01 vỏ bao diêm “THONG NHAT”; 01 hộp sắt màu xanh; 01 cân tiểu li điện tử màu xám; 01 chai nhựa nắp có gắn vòi hút nhựa là vật sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng và chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy. Còn 01 điện thoại di động IPHONE màu vàng, lắp kèm sim số thuê bao 0853.388.838 là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với đối tượng nam giới sử dụng số điện thoại 0562.437.217 liên lạc mua chất ma túy, Cơ quan điều tra đã có công văn yêu cầu Công ty Cổ phần viễn thông di động Vietnammobile cung cấp đầy đủ thông tin chủ thuê bao, lịch sử cuộc gọi đi, đến vào ngày 02-8-2022 nhưng đến nay chưa nhận được kết quả và đối tượng tên Trung đã bán ma túy cho bị cáo, do không rõ tên, tuổi, địa chỉ, nơi ở nên chưa có cơ sở để xử lý trong vụ án này.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội bị cáo và đề nghị giải quyết toàn bộ nội dung vụ án là đúng pháp luật, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc K 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ khi bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02-8-2022.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu để tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định; 01 (một) vỏ bao diêm “THONG NHAT”; 01 (một) hộp sắt màu xanh kích thước 02 cm x 03 cm x 08 cm trên bề mặt có in chữ Doublemint; 01 (một) cân tiểu li điện tử màu xám; 01 (một) chai nhựa nắp có gắn vòi hút nhựa;
- Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động IPHONE màu vàng, số IMEL: 359242060143430, lắp kèm sim số thuê bao 0853.388.838.
(Chi tiết vật chứng trên được ghi theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-11-2022 giữa Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Ngọc K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L; - Cơ quan điều tra Công an thành phố L; - Cơ quan Thi hành án Hình sự Công an thành phố L; - Trại tạm giam công an tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THA Dân sự TP. Lạng Sơn (khi án có hiệu lực pháp luật); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Đình Phương |