- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa ông Nguyễn Tướng Hoàng với bà Nguyễn Thị Kim Vàng"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157/2022/HNGĐ-ST Ngày: 08-11-2022 V/v Ly hôn giữa ông H và bà V. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Hữu Trí
Ông Bùi Văn Sơn
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Ngày 08 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 320/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng
6 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
230/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2022 và Quyết định Hoãn
phiên tòa số 197/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông N T H, sinh ngày 16-7-1997
CMND số xxxxxxxxx do công an tỉnh An Giang cấp ngày 18-02-2014
Nơi cư trú: Tổ 51, ấp B A 1, xã A H, huyện C T, tỉnh An Giang.
Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 13-9-2022
2.Bị đơn: Bà N T K V, sinh ngày 09-10-1997
CMND số xxxxxxxxx do công an tỉnh An Giang cấp ngày 18-4-2012
ĐKHKTT: Tổ 51, ấp B A 1, xã A H, huyện C T, tỉnh An Giang.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn, Tờ tự khai ngày 19-5-2022 và Đơn xin xét xử
vắng mặt ngày 13-9-2022, nguyên đơn ông N T H trình bày:
+Về hôn nhân: Ông và bà N T K V kết hôn năm 2020, hôn nhân do quen
biết, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã A H, huyện C T, tỉnh An Giang số 53 ngày 01-6-2020. Sau khi cưới vợ chồng sống cùng nhà với cha mẹ chồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường hay cự cãi. Tháng 3/2021, bà V bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay ông nhận thấy không còn tình cảm với bà V, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xin ly hôn với bà N T K V.
+Về con chung: Không có con chung.
+Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
+Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và 2
lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà N T K V, nhưng bà V vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn ông N T H, bị đơn bà N T K V,
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa; nguyên đơn ông H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà V vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với nguyên đơn ông H và bị đơn bà V.
[2] Về hôn nhân: Ông N T H và bà N T K V kết hôn năm 2020, hôn nhân
do quen biết, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã A H, huyện C T, tỉnh An Giang số 53 ngày 01-6-2020 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Ông H có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hàn gắn lại tình cảm giữa ông H và bà V, nhưng bà V nhiều lần vắng mặt nên không hòa giải được.
Xét thấy: Từ tháng 3/2021, giữa ông H và bà V phát sinh nhiều mâu thuẫn,
do bất đồng quan điểm sống, thường hay cự cãi. Từ tháng 3/2021, ông H và bà V sống ly thân cho đến nay. Từ khi sống ly thân cho đến nay cả ông H và bà V đều không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa ông H và bà V là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là ông H được ly hôn với bà V là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Ông H trình bày không có con chung. Bà V không có ý
kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông H trình bày không có, không yêu cầu
Tòa án giải quyết. Bà V không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem
xét.
[5] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147
của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 của
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban
Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nguyên đơn ông H phải chịu
300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002584
ngày 23-6-2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An
Giang.
[6] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271
và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn ông H, bị đơn bà V vắng
mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng
Dân sự;
Điều 9 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14
ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Xử:
[1] Về hôn nhân: Ông N T H được ly hôn với bà N T K V.
Giấy chứng nhận kết hôn số 53 ngày 01-6-2020 của UBND xã A H, huyện
C T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung: Không có con chung.
[3] Về án phí: Nguyên đơn ông N T H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn
đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm
ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
tòa án số 0002584 ngày 23-6-2022 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu
Thành, tỉnh An Giang.
[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông N T H, bị đơn bà N T K V vắng
mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Các đương sự (để thi hành); -Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; -Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành; -Phòng Kiểm tra Nghiệp vụ - Thi hành án, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; -Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn (UBND xã A H, huyện C T, tỉnh An Giang; -Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đông Hoà |