- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị H phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị H phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157/2021/HS-ST Ngày 30-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hứa Thị Thanh Xuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Xuân;
Ông Nông Ngọc Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 144/2021/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2021 đối với:
- Bị cáo: Phạm Thị H; sinh ngày 02 tháng 10 năm 1967 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 13/18, đường B, khối 2, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: Số 40/4, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1947; chồng: Vi Quốc L (đã chết); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1993; tiền án: Tại Bản án số 66/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 tháng tù về tội Đánh bạc (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 50/2012/HSST ngày 20/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 7.000.000 đồng về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích). Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/9/2021 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Phạm Văn N, sinh năm 1975; địa chỉ: Số 39, đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn). Vắng mặt.
+ Bà Trương Thị H, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 76B, đường C, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Lương Trung Đ, bà Lý Thị S. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/7/2021, tại nhà số 39, đường N, phường V, thành phố L, Tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn phát hiện, bắt quả tang Phạm Thị H cùng ông Phạm văn N, bà Trương Thị H đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức "đánh phỏm", thắng thua bằng tiền, thu trên chiếu bạc 300.000 đồng, 52 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếc chăn kích thước 1,5m x 1,8m dùng làm chiếu bạc.
Quá trình điều tra, Phạm Thị H, ông Phạm văn N và bà Trương Thị H đều khai nhận: Chiều ngày 08/7/2021, Phạm Thị H và bà Trương Thị H đến nhà trọ của ông Phạm văn N tại số 39, đường N, phường V, thành phố L chơi, tại đó cả ba rủ nhau đánh bạc dưới hình thức dùng bộ bài 52 quân "đánh phỏm", thắng thua bằng tiền. Bắt đầu mỗi ván bài, người chơi đầu tiên được chia 10 lá bài, mỗi người còn lại được chia 09 lá bài, các lá bài dư được đặt ở giữa, người chơi đầu tiên đánh 01 lá bài ngược chiều kim đồng hồ, người tiếp theo dựa trên số bài trên tay sẽ nhận lá bài đó nếu nó phù hợp với các lá bài đang có trên tay tạo thành "phỏm" (03 lá bài trở lên cùng số hoặc cùng chất liên tiếp nhau) nếu không nhận được thì phải bốc 01 lá bài trong số bài dư; Sau khi ăn bài hoặc bốc bài, người chơi phải đánh ra 01 lá bài, cứ tiếp tục như thế đến khi hết vòng. Ván bài kết thúc khi có 01 người ù (tất cả 09 lá bài đều có phỏm không có lá bài nào lẻ không thuộc phỏm nào), nếu có người ù thì mỗi người chơi còn lại phải trả người ù số tiền 50.000 đồng. Nếu không có người ù thì ván bài sẽ kết thúc sau 04 lượt bốc bài, người chơi hạ phỏm mình có, đánh lá cuối cùng, giữ những lá bài còn lại tính điểm. Số điểm của mỗi lá bài là số trên lá bài đó, riêng các lá A, J, Q, K sẽ được tính điểm lần lượt là 1, 11, 12, 13; ai là người ít điểm nhất là người thắng, trường hợp bằng điểm nhau thì người hạ sau thua, người về nhì phải trả người thắng số tiền 10.000 đồng, người về cuối trả số tiền 20.000 đồng; nếu người không hạ được phỏm nào gọi là cháy thì phải trả cho người thắng là 40.000 đồng. Bị cáo, ông Phạm văn N và bà Trương Thị H mỗi người có 100.000 đồng sử dụng đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 300.000 đồng; trong đó: số tiền có trước mặt của bà Trương Thị H là 200.000 đồng, số tiền có trước mặt ông Phạm văn N 100.000 đồng, trước mặt Phạm Thị H không có tiền do đang bị thua.
Tại Kết luận giám định số 433/KLGĐ-PC09 ngày 05/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn đã kết luận toàn bộ số tiền Việt Nam gồm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) trong phong bì niêm phong gửi giám định đều là tiền thật.
Tại Cáo trạng số 144/CT-VKS, ngày 18/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố Phạm Thị H về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trương Thị H giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc với bị cáo và ông Phạm văn N như bị cáo đã trình bày. Ông Phạm văn N vắng mặt tại phiên tòa, có đề nghị giải quyết vắng mặt. Trong quá trình điều tra, ông Phạm văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc với bị cáo và bà Trương Thị H như nêu trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thị H phạm tội Đánh bạc; áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng sử dụng đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ và 01 chiếc chăn hình chữ nhật, kích thước 1,5m x 1,8m.
Bị cáo tranh luận cho rằng mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là cao, đề nghị đại diện Viện kiểm sát giảm mức hình phạt vì bị cáo đang bị bệnh tiểu đường và huyết áp.
Đại diện Viện kiểm sát ý kiến tranh luận: Viện kiểm sát đã căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để đề nghị mức hình phạt và mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ. Năm 2012, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 7.000.000 đồng về Tội đánh bạc; năm 2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 tháng tù về Đánh bạc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, thể hiện bị cáo coi thường pháp luật; do đó, cần xử phạt nghiêm khắc mới đủ sức giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo trình bày bị cáo là người có bệnh nhưng không có căn cứ, tài liệu chứng minh. Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận thêm. Trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phạm văn N. Ông Phạm văn N đang chấp hành hình phạt tù tại Trại tạm giam và đã có đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Phạm văn N theo quy định.
Về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện, các tài liệu chứng cứ đã thu thập đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/7/2021, tại nơi ở của ông Phạm văn N số 39, đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Phạm Thị H với bà Trương Thị H, ông Phạm văn N đã cùng nhau đánh bạc dưới hình thức “đánh phỏm” sử dụng một bộ tú lơ khơ 52 quân bài để chơi, thắng thua bằng tiền. Số tiền bị cáo dùng để đánh bạc là 100.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, thu trên chiếu bạc 300.000 đồng; trong đó, trước mặt bị cáo không có tiền do đã thua hết, trước mặt bà Trương Thị H có 200.000 đồng, trước mặt ông Phạm văn N có 100.000 đồng. Thấy, tuy số tiền bị cáo đánh bạc dưới 5.000.000 đồng (thu trên chiếu bạc 300.000 đồng) nhưng tại Bản án số 66/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn bị cáo đã bị xử phạt 07 tháng tù về tội Đánh bạc, chưa được xóa án tích, nay bị cáo lại có hành vi đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, là nguyên nhân tiền đề phát sinh thiệt hại về kinh tế và các loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn phạm tội. Để quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điểu tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Tại Bản án số 50/2012/HSST ngày 20/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 7.000.000 đồng về tội Đánh bạc, tuy đã được xóa án tích nhưng xác định bị cáo có nhân thân xấu.
[9 Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên, xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo Biên bản xác minh ngày 29/9/2021 thể hiện bị cáo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số tiền 300.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; đối với 52 quân bài tú lơ khơ và 01 chăn chữ nhật, kích thước 1,5m x 1,8m là các công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với ông Phạm văn N và bà Trương Thị H do hành vi vi phạm chưa cấu thành tội phạm, Công an thành phố Lạng Sơn đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng trên. Đối với ông Lương Trung Đ và bà Lý Thị S là người có mặt khi bị cáo đánh bạc nhưng không tham gia đánh bạc, Cơ quan điều tra không xử lý các đối tượng này là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về hình phạt đối với bị cáo là cao so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Các đề nghị khác của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị H phạm tội Đánh bạc.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng);
Tịch thu và tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ và 01 chăn hình chữ nhật, kích thước 1,5m x 1,8m;
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/11/2021).
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn; - Công an TP. Lạng Sơn, T. lạng Sơn; - CCTHADS TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn; - Bị cáo, NCQLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Thị Thanh Xuyến |