vanban.org

Bản án 157/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị Thanh H và anh Hoàng Văn M.

2- Về con chung: Giao cháu Hoàng Kỳ Anh sinh ngày 09/02/2018 cho anh Hoàng Văn M trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu Hoàng Kỳ A đang do anh Hoàng Văn M chăm sóc, nuôi dưỡng). Chị Phạm Thị Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Hoàng Văn M đối với cháu Hoàng Kỳ A. Không ai được ngăn cản quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Huyền xin ly hôn anh Minh"
  • Tòa quyết gì? 1- Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị Thanh H và anh Hoàng Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N, TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2021/HNGĐ - ST
Ngày 07 - 9 - 2021
V/v chị H xin ly hôn anh M

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Vui

2. Ông Đàm Văn Kiều

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh N tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2021. Về vụ án tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2021 giữa, các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thanh H - Sinh năm 2000 Địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn R, huyện N, tỉnh N.

+ Bị đơn: Anh Hoàng Văn M - Sinh năm 1990 Địa chỉ: Tổ dân phố 10, thị trấn R, huyện N, tỉnh N.

Tại phiên tòa có mặt chị H, vắng mặt anh M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện lập ngày 27/5/2021 cũng như lời khai của chị Phạm Thị Thanh H trong quá trình giải quyết trình bày: Chị kết hôn với anh Hoàng Văn M vào tháng 6/2018, trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn R, huyện N, tỉnh N. Sau khi kết hôn, chị và anh M chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 12/2020 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên bất đồng về quan điểm sống nên vợ chồng thường xảy ra cãi chửi nhau. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị và anh M không được cải thiện. Từ tháng 4/2021 đến nay chị và anh M sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh M không còn nên chị xin được ly hôn anh Hoàng Văn M. Về con chung giữa chị và anh Hoàng Văn M có một con chung là Hoàng Kỳ A sinh ngày 09/02/2018, hiện đang do anh M chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay chị nhất trí để anh M trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Kỳ A và chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M. Về tài sản chung giữa chị và anh Hoàng Văn M thì chị không yêu càu giải quyết. Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay anh Hoàng Văn M vắng mặt nhưng anh M có lời khai trong quá trình giải quyết trình bày đúng như lời khai của chị Phạm Thị Thanh H về quá trình kết hôn và sống chung giữa anh và chị H. Sau khi kết hôn anh và chị H chung sống không có mâu thuẫn gì lớn nhưng chị H thường xuyên đòi ly hôn anh. Từ tháng 4/2021 đến nay anh và chị H đã sống ly thân nhau. Nay chị H xin ly hôn anh thì anh không nhất trí vì con chung còn nhỏ và anh mong chị H nghĩ lại để vợ chồng về đoàn tụ. Về con chung giữa anh và chị Phạm Thị Thanh H có một con chung là Hoàng Kỳ A sinh ngày 09/02/2018, hiện đang do anh nuôi dưỡng. Nếu phải ly hôn thì anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Kỳ A và anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Về tài sản chung giữa anh và chị Phạm Thị Thanh H thì anh không yêu cầu giải quyết. Do điều kiện công viện bận anh không tham gia phiên tòa được nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về tố tụng, qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 6; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: xử ly hôn giữa chị Phạm Thị Thanh H và anh Hoàng Văn M; Về con chung: Giao cháu Hoàng Kỳ Anh sinh ngày 09/02/2018 cho anh Hoàng Văn M trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M. Về án phí, đề nghị tuyên chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Phạm Thị Thanh H và anh Hoàng Văn M đều cư trú tại thị trấn R, huyện N, tỉnh N. Nay chị H xin ly hôn anh M và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa anh Hoàng Văn M vắng mặt nhưng anh M đã có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Nghiã Hưng tiến hành xét xử vắng mặt anh M là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị Thanh H và anh Hoàng Văn M được tổ chức kết hôn vào tháng 6/2018, trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn R, là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn chị H và anh M chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 12/2020 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên không hợp tính nhau. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh M không được cải thiện. Từ tháng 4/2021 đến nay chị H và anh M đã sống ly thân nhau. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh M đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị H xin ly hôn anh M nên chấp nhận là phù hợp. Xét việc anh M không nhất trí ly hôn chị H với ý do con chung còn nhỏ, thấy không có căn cứ nên yêu cầu của anh M không được chấp nhận.

Về con chung: Chị Phạm Thị Thanh H và anh Hoàng Văn M có một con chung là Hoàng Kỳ A sinh ngày 09/02/2018, hiện đang do anh M chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay anh M có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Kỳ A và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh M và phía chị H cũng nhất trí nên chấp nhận là phù hợp.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Thanh H và anh Hoàng Văn M đều không yêu cầu giải quyết về tài sản chung của anh chị nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm, chị Phạm Thị Thanh H phải nộp theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N về việc giải

quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 147; 271; 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 6; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1- Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị Thanh H và anh Hoàng Văn M.

2- Về con chung: Giao cháu Hoàng Kỳ Anh sinh ngày 09/02/2018 cho anh Hoàng Văn M trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu Hoàng Kỳ A đang do anh Hoàng Văn M chăm sóc, nuôi dưỡng). Chị Phạm Thị Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Hoàng Văn M đối với cháu Hoàng Kỳ A. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

3- Về án phí dân sự sơ thẩm, chị Phạm Thị Thanh H phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị Thanh H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số AA/2019/0004259 ngày 04/8/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị Phạm Thị Thanh H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị H, vắng mặt anh M. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ