- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN QUỐC S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trần Quốc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THANH HÓA Bản án số: 157/2020/HSST Ngày: 18/12/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lƣơng Thị Cúc
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Văn Tòng
2. Ông: Nguyễn Quang Học
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Cao Cƣờng – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 12 năm 2020 tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 152/2020/HSST ngày 23/11/2020. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2020/QĐXX- ST, ngày 04/12/2020 đối với bị cáo:
Bị cáo TRẦN QUỐC S – Sinh năm 1989; Nơi sinh và HKTT: thôn Trường S, xã Trường L, TX. Nghi S, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Trần Quốc V – Sinh năm 1964 và con bà Mai Thị H – Sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2020 cho đến nay có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Mai Thùy Linh - là Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 7, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa
- Người làm chứng:
+ Anh Hoàng Viết Luân - Sinh năm: 1985
Nơi cư trú: Thôn Minh Lâm, xã Trường Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
+ Anh Vũ Xuân Thủy - Sinh năm: 1976
Nơi cư trú: Thôn Ninh Sơn, xã Trường Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12h30’ ngày 20/8/2020, tại thôn Minh L, xã Trường L, thị xã Nghi S, Trong quá trình tuần tra làm nhiệm vụ Công an xã Trường Lâm nhận thấy Trần Quốc S có biểu hiện vi phạm pháp luật nên tiến hành kiểm tra. Trong quá trình kiểm tra phát hiện và bắt quả tang tay phải của Sỹ có 01 gói nilon màu vàng bên trong có 02 gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn nghi là ma túy, ngoài ra không thu giữ thêm bất kỳ đồ vật, tài liệu gì khác. Lực lượng Công an xã Trường Lâm đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội, niêm phong vật chứng và bàn giao cho Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn để điều tra theo đúng thẩm quyền.
Khám xét nơi ở khẩn cấp của bị cáo không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại kết luận giám định số 2255/MT – PC09, ngày 24/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,271 loại Heroin.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo.
Bản cáo trạng số 165/CT-VKS ngày 20/11/2020 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố Trần Quốc S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý''.
Tại phiên tòa VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS và đề nghị mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù. Thời gian chấp hành tính từ ngày 20/8/2020.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo:Đồng ý với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhưng về hình phạt đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt từ 12 đến 15 tháng tù để bị cáo có cơ hội trở về với đời sống cộng đồng và giúp đỡ gia đình.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã khai nhận rõ: Khoảng 12h30’ ngày 20/8/2020 tại thôn Minh Lâm, xã Trường Lâm, thị xã Nghi Sơn, tổ Công tác Công an xã Trường Lâm đang làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện và bắt quả tang Trần Quốc S đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,271g ma túy loại Heroin nhằm mục đích để sử dụng trái phép. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và cần xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý'' theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tang vật cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với lời kết luận của đại diện VKS. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý'' theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Đối với nguồn gốc số ma túy Sỹ khai mua của Hoàng Văn Tài ở thôn Minh Lâm, xã Trường Lâm, cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã tiến hành điều tra nhưng Tài không thừa nhận và cũng không có căn cứ nào xác định Tài là người bán ma túy cho Sỹ vì vậy không đủ căn cứ để xử lý Tài theo quy định.
. Xét tính chất vụ án:
Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn thị xã Nghi Sơn nói riêng ngày càng tăng. Bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác ... đều vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện và thực hiện tới cùng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội, và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của bị cáo nói riêng cũng như tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
. Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật nên đã thật thà, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên khi lượng hình được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất nghiêm trọng, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện hút, mục đích của bị cáo phạm tội là để sử dụng nên nghĩ không cần áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS.
Xét quan điểm người bào chữa: xét thấy mức hình phạt Người bào chữa đề nghị cho bị cáo là thấp vì bị cáo đã sử dụng ma túy trong mottj thời gian dài, chính ma túy là nguyên nhân gây nên căn bệnh HIV của bị cáo vì vậy thấy cần phải lên cho bị cáo mức hình phạt dài hơn đề nghị của Người bào chữa là cần thiết.
. Xét về vật chứng gồm: Cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Hiện đang được lưu giữ tại kho chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn.
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS.
- Tuyên bố: Trần Quốc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Trần Quốc S 18 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt của bị cáo tính từ ngày 20/8/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong bên trong đựng toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,247g chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn còn lại sau giám định theo kết luận giám định là Heroin hiện đang lưu giữ tại kho của Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn theo phiếu NK2021/ 19, ngày 23/11/2020 của Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa.
- Án phí : Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
- Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND thị xã Nghi Sơn; - Công an thị xã Nghi Sơn; - THADS thị xã Nghi Sơn; - Bị cáo; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lƣơng Thị Cúc |