vanban.org

Bản án 157/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2020. Về vật chứng của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hoàng T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NH DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2020/HS-ST
Ngày: 30-7-2020

NH DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh.

Các Hội thẩm nH dân:

Ông Nguyễn Phước Hải.

Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nH dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nH dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 185/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Đặng Hoàng T, sinh năm 1990, tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn M và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Lưu Thị Ngọc H; chưa có con; tiền án, tiền sự: không; nH tH: Ngày 25/8/2011, bị Tòa án nH dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2011/HS-ST. Ngày 30/01/2015, bị Tòa án nH dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 13/QĐ - TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/01/2020 cho đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lưu Thị Ngọc D, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Lưu Thị Ngọc H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Đặng Hoàng T và Lưu Thị Ngọc H là vợ chồng. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/01/2020, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Sh Mode biển số 64B1-619.XX chở H đi đến huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để chơi. Khi T và H đi đến khu vực xã Trung An, huyện Củ Chi thì T nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng. T nói H xuống xe đợi T. T điều khiển xe đi đến khu đất trống cách chỗ H đứng khoảng 01 km rồi dùng điện thoại di động có số thuê bao 0937.983.XXX gọi đến số thuê bao 0933.117.XXX của một người nam (không rõ tên và địa chỉ) hỏi mua 300.000 đồng ma túy thì người nam đồng ý và nói T đứng đợi. Khoảng 05 phút sau, người nam đến đưa cho T 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín bên trong chứa ma túy và 01 bơm kim tiêm rồi lấy 300.000 đồng. T lấy một ít ma túy ra sử dụng rồi dùng hột quẹt hàn kín đoạn ống nhựa lại và cất vào túi quần. Sau đó, T điều khiển xe chạy lại nơi H chờ chở đi chơi rồi đi về Bình Dương. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T điều khiển xe đi đến đường Bờ Bao thuộc khu 4, phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một thì bị Công an phường Tân An dừng xe kiểm tra phát hiện T cất giấu bên trong túi quần 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín nghi là ma túy nên lập biên bản bắt giữ T.

Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về các vấn đề khác của vụ án:

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô hiệu Honda Sh Mode màu trắng nâu biển số 64B1- 619.XX (số máy JF51E02923XX, số khung 5128FY0498XX); 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen (số IMEI1 352812100358797/XX, số IMEI2 352813100358795/XX có số thuê bao 0937.983.XXX).

Ngày 03/02/2020, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có Kết luận giám định số 35/MT-PC09, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín là ma túy, loại Heroin có khối lượng 0,1939 gam.

Quá trình điều tra, xác định:

+ Xe mô tô hiệu Honda Sh Mode màu trắng nâu biển số 64B1-619.XX do bà Lưu Thị Ngọc D đứng tên chủ xe trên Giấy chứng nhận đặng ký xe mô tô. Bà D cho bà H mượn xe làm phương tiện đi lại. Việc T lấy xe đi mua ma túy bà D không biết. Ngày 03/02/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả xe mô tô trên cho bà D theo Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 90 ngày 03/02/2020.

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen (số IMEI1 352812100358797/XX, số IMEI2: 352813100358795/XX số thuê bao 0937.983.XXX) thu giữ của T nên Viện kiểm sát nH dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển điện thoại trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Đối với Lưu Thị Ngọc H, khi T mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy H không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một không xử lý đối với H.

Đối với người nam sử dụng số thuê bao di động 0933.117.XXX, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã ra Lệnh thu giữ điện tín số 23 ngày 3/02/2020 yêu cầu Tổng Công ty Viễn thông Mobifone cung cấp thông tin chủ thuê bao nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý sau.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Cáo trạng số 197/CT-VKS-HS ngày 02/7/2020 của Viện Kiểm sát nH dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đặng Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp:

Đối với 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa 0,1756 gam heroin là tang vật của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen (số IMEI1 352812100358797/XX, số IMEI2 352813100358795/XXX số thuê bao 0937.983.XXX) là tài sản của bị cáo T không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Đặng Hoàng T không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hoàng T đã khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 31/01/2020 tại khu phố 4, phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một, bị cáo T có hành vi tàng trữ 0,1939 gam ma túy, loại heroin để sử dụng thì bị lực lượng công an bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai người làm chứng, nội dung bản cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, làm phát sinh các tệ nạn xã hội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý chất ma túy của nhà nước mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét đề nghị của kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án:

Một gói ma túy có trọng lượng 0,1756 gam loại heroin đã thu giữ của Đặng Hoàng T là tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen (số IMEI1 352812100358797/XX, số IMEI2 352813100358795/XX số thuê bao 0937.983.XXX) là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2020.

2. Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 0,1756 gam heroin.

- Trả lại cho bị cáo Đặng Hoàng T 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen (số IMEI1 352812100358797/XX, số IMEI2: 352813100358795/XX số thuê bao 0937.983.XXX).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 164.20 ngày 02/7/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

3. Về án phí: Bị cáo Đặng Hoàng T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ