vanban.org

Bản án 157/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Đánh bạc”.

Nguyễn Đình T 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T cho UBND xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giám sát, quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình T - phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2019/HSST
Ngày: 26/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nam và ông Nguyễn Hồng Mạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Võ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Phụng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh

Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 156/2019/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2019/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 11 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Đình T, sinh năm 1987;

HKTT: Thôn GL, xã PL, huyện QV, tỉnh BN; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Nguyễn Đình K, sinh năm 1963; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Đ (Đã chết); gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Tạm giữ từ ngày 11/9/2019 đến ngày 17/9/2019, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hoàng Văn V, sinh năm 1993 – vắng mặt;

Địa chỉ: Đồng Hỷ, Đô Lương, Hữu Lũng, Lạng Sơn;

2. Anh Phạm Văn H, sinh năm 1994 – vắng mặt;

3. Anh Nguyễn Viết Đ, sinh năm 1974 – vắng mặt;

Cùng địa chỉ: Giang Liễu, Phương Liễu, Quế Võ, Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày, khoảng

tháng 8/2019, Nguyễn Đình T đã đánh bạc ăn tiền bằng hình thức bán số lô, số đề theo kết quả xổ số. Cách thức đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề lấy kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày làm căn cứ so sánh được thua như sau: Khách mua số “lô” thì so sánh với hai số cuối của tất cả các giải thưởng từ giải đặc biệt đến giải bảy, nếu số lô của người chơi mua trùng với hai số cuối của tất cả các giải thì T phải trả cho người chơi số tiền là 01 điểm = 80.000đ (mỗi 01 điểm người chơi phải trả số tiền 23.000đ). Nếu khách mua số “đề” thì so sánh với hai số cuối của giải đặc biệt, nếu trùng với số của người chơi đã mua thì T phải trả cho người chơi số tiền gấp 80 lần số tiền người chơi đã mua số “đề”. Khách mua số “lô xiên hai” là khách chọn hai cặp số bất kỳ và so sánh với tất cả các giải, nếu hai cặp số người chơi mua đều trùng với hai số cuối các giải thì T phải trả cho người chơi số tiền là 1.000đ = 12.000đ. Khách mua số “lô xiên ba” là khách chọn 3 cặp số bất kỳ và so sánh với tất cả các giải, nếu ba cặp số người chơi mua đều trùng với hai số cuối của tất cả các giải thì T phải trả cho người chơi số tiền là 1.000đ = 40.000đ. Khách mua số “ba cửa” là khách chọn một cặp số bất kỳ, nếu cặp số khách chọn trùng với hai số cuối của giải đặc biệt, giải nhất, giải nhì thì T phải trả khách số tiền tương ứng là cứ 3.000đ = 80.000đ. Khách mua số “ba càng” thì so sánh với 3 số cuối của giải đặc biệt, nếu số khách đánh trùng với 3 số cuối của giải đặc biệt thì T phải trả người chơi số tiền gấp 400 lần số tiền người chơi đã mua. Trường hợp kết quả không trùng với những số người chơi đã mua của T thì người chơi sẽ mất số tiền đó.

Sau khi bán số lô, số đề cho người chơi, T sẽ chuyển cho Nguyễn Tài Phương, sinh năm 1989 ở thôn Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh qua tin nhắn mạng Zalo để hưởng phần trăm hoa hồng theo tỷ lệ: Cứ mỗi điểm lô T ghi cho khách là 23.000đ thì T sẽ chuyển cho Phương 22.000đ; cứ 1.000đ tiền số đề, ba cửa, lô xiên hai, lô xiên ba, ba càng T chuyển cho Phương 850 đồng. Ngày 11/9/2019, T chưa chuyển bảng cáp lô đề cho Phương.

Buổi chiều ngày 11/9/2019, T đang ngồi uống nước tại sân nhà T thì có Nguyễn Viết Đảm, sinh năm 1974 ở cùng thôn đến mua các con số ba cửa 91, 82, 65 mỗi con 10.000đ và số đề 65 – 10.000đ. Tổng số tiền T đánh bạc với Đảm là 100.000đ. Ngay sau đó, Phạm Văn Hải, sinh năm 1994 ở cùng thôn đã mượn điện thoại di động OPPO F1 màu trắng của anh Nguyễn Văn Tư, sinh năm 1992 ở thôn Mộ Đạo, xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ nhắn tin qua mạng Zalo cho T để mua các con số lô 33, 44 mỗi con 5 điểm và số đề 45-10.000đ. Tổng số tiền T đánh bạc với Hải là 240.000đ. Ngoài ra, T còn bán số lô, số đề, số xiên hai, xiên ba, ba càng cho một số người khách khác T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu với tổng số tiền là 4.450.000đ.

Đến 17 giờ 50 phút cùng ngày, Nguyễn Thành Phương và Hoàng Văn Vy đến

ngồi chơi và đặt vấn đề đánh bạc với T bằng hình thức mua số lô, số đề, T đồng ý. Phương bảo T ghi hai con số lô 93, 18 mỗi con 50 điểm và bốn con số đề gồm 93, 39, 18, 81 mỗi con 100.000đ. Tổng số tiền mà Phương đánh bạc với T là 2.700.000đ. T ghi các con số lô, số đề Phương đánh vào một tờ giấy nhỏ màu vàng (cáp lô đề) rồi đưa cho Phương, Phương cầm tờ cáp lô đề và đưa cho T 2.700.000đ. Ngay sau đó, Vy bảo T ghi số lô 28 – 100 điểm và hai con số đề 28, 82 mỗi con 150.000đ. Tổng số tiền T đánh bạc với Vy là 2.600.000đ. T ghi các con số lô, số đề Vy đánh vào tờ cáp lô đề màu vàng và đưa cho Vy, Vy đưa cho T 2.600.000đ. Đúng lúc này bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng, bao gồm: 01 bàn nhựa và 04 ghế nhựa màu xanh đã qua sử dụng; 01 bút bi màu xanh; 02 tờ cáp nhỏ màu vàng bên trong có ghi các số lô, số đề; 01 tờ cáp A4 có kẻ thành các cột bên trong có các chữ số và số tiền 5.300.000đ tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Ngoài ra, ngày 12/9/2019, thu giữ của Nguyễn Đình T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu xám đã qua sử dụng. Ngày 18/9/2019, anh Tư đến Công an huyện Quế Võ giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1 màu trắng đã qua sử dụng. Ngày 01/10/2019, Nguyễn Đình T tự nguyện giao nộp số tiền 4.790.000đ là số tiền T đánh bạc ngày 11/9/2019. Ngày 15/10/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ trả lại điện thoại di động nhãn hiệu OPPO cho anh Tư quản lý, sử dụng.

Thời điểm lực lượng công an bắt quả tang, chưa mở thưởng kết quả sổ xố kiến

thiết miền Bắc nên số tiền các T đánh bạc với các đối tượng là 10.090.000đ.

Với nội dung trên, tại Cáo trạng số: 148/CT-VKSQV ngày 12/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng của VKSND huyện Quế Võ, truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các anh Hoàng Văn Vy, Phạm Văn

Hải và Nguyễn Viết Đảm có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà công bố bản luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội "Đánh bạc".

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Đình T 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra, đại diện VKS còn đề nghị xử lý về vật chứng, án phí và quyền kháng

cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà

chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đình T tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, vật chứng thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 17 giờ 58 phút, ngày 11/9/2019, tại nhà của mình ở thôn Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Đình T có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số lô, số đề với Nguyễn Thành Phương số tiền 2.700.000đ và Hoàng Văn Vy số tiền 2.600.000đ. Ngoài ra, T còn đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số lô, số đề với Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Viết Đảm và một số người khác không biết tên, tuổi địa chỉ ở đâu với tổng số tiền đánh bạc là 4.790.000đ. Trong vụ án này các đối tượng đều thống nhất lấy kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng vào khoảng từ 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 30 phút ngày 11/9/2019 làm căn cứ đối chiếu thắng thua cho việc đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, chưa mở thưởng kết quả xổ số Miền Bắc nên tổng số tiền Nguyễn Đình T đã đánh bạc với các đối tượng là 10.090.000đ (theo tiết b, điểm 5.2 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ - HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 1999). Nên có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội "Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới an

ninh trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề là vi phạm pháp luật, song vì hám lợi bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, tuy số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn nhưng lại lôi kéo nhiều người tham gia, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo chẳng những làm gia tăng tệ nạn cờ bạc trong cộng đồng dân cư, mà còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống bình thường của nhiều gia đình khi có con em, người thân đam mê cờ bạc và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với

bị cáo thì thấy: Bị cáo xuất thân từ gia đình con em lao động, chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng nên HĐXX thấy cho bị cáo được giáo dục, cải tạo tại địa phương cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

Ngoài hình phạt chính cần phạt bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với số tiền 10.090.000đ và chiếc điện thoại di động Iphone 6s plus màu xám có ốp màu đen đã qua sử dụng, xét thấy đây là tiền và công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước; Đối với 01 bút bi màu xanh đã qua sử dụng, 01 bàn nhựa, 04 ghế nhựa màu xanh đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội, giá trị nhỏ và đã qua sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; Đối với các cáp đề gồm 02 mẩu giấy màu vàng và 01 tờ giấy A4 màu trắng (có chữ ký và điểm chỉ của người bị bắt) là tài liệu, chứng cứ của vụ án đã lưu trong hồ sơ vụ án nên cần T tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Liên quan trong vụ án còn có đối tượng Nguyễn Thành Phương đã bỏ trốn và một số đối tượng khác không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể đánh bạc cùng với T ngày 11/9/2019, đề nghị cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ T tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Hoàng Văn Vy, Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Viết Đảm có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức ghi số lô, số đề với T, Công an huyện Quế Võ đã xử lý hành chính đối với Vy, Đảm, Hải về hành vi “Đánh bạc” là đúng quy định của pháp luật.

Đối với anh Tư đã cho Hải mượn điện thoại di động nhắn tin zalo mua số lô,

số đề của T, tuy nhiên anh Tư không biết Hải mượn điện thoại mục đích để đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Võ không đề cập xử lý đối với anh Tư là phù hợp.

Đối với hành vi của Nguyễn Tài Phương là người T khai chuyển bảng cáp lô đề hàng ngày. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ đã triệu tập, lấy lời khai của Phương và tiến hành đối chất giữa T và Phương, tuy nhiên Phương không thừa nhận hành vi nhận bảng cáp đề của T nên cơ quan ĐT chưa đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Phương là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS; Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử phạt:

Nguyễn Đình T 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo T cho UBND xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giám sát, quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của

Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 10.090.000đ và chiếc điện thoại di động Iphone 6s plus màu xám có ốp màu đen đã qua sử dụng;

- Tịch thu tiêu huỷ 01 bút bi màu xanh đã qua sử dụng, 01 bàn nhựa, 04 ghế nhựa màu xanh (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ). T tục lưu giữ 02 mẩu giấy màu vàng và 01 tờ giấy A4 màu trắng là cáp lô đề (có chữ ký của bị cáo) trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong

hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ