vanban.org

Bản án 157/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 27/06/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TVN và 02 bị cáo khác đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------
Bản án số: 157/2019/HS-PT
!
Ngày: 27/02/2019
!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!TVN!VIỆT!NAM!

-------------------------------------------------------------------!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Huy

Các Thẩm phán: Ông Phạm Năng Thành

Ông Phan Huy Cương

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hải-Thư ký Toà án;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hồng- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2019, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 923/2018/TLPT-HS ngày26/12/2018 đối với các bị cáo: TVN, VVM, LVNdo có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HS-ST ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội:

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Bị cáo TVN,!sinh năm 1985, tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở tại: Thôn PĐ, xã ĐT, huyện PX, thành phố Hà Nội; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông:TVD, con bà TTHn; Vợ là LTBvà có 02 con;Danh chỉ bản số: 217lập ngày 26/4/2018 tại Công an huyện Phú Xuyên; Tiền án: chưa có;Tiền sự: chưa có; Bị tạm giữ từ ngày 24/4/2018 đến ngày 24/5/2018; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Bị cáo VVM,!sinh năm 1981, tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở tại: Tiểu khu PM, thị trấn PX, huyện PX, thành phố Hà Nội; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông:VVB, con bà DTQ; Vợ là VTGvà có 02 con; Danh chỉ bản số: 219 lập ngày 26/4/2018 tại Công an huyện Phú Xuyên; Tiền án: chưa có; Tiền sự: chưa có; Nhân thân đã có 01 lần bị kết án (Bản án số 23/HSST ngày 28/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên xử

1 phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thủ thách là 16 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc);Bị tạm giữ từ ngày 24/4/2018 đến ngày 30/4/2018; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Bị cáo LVN,!sinh năm 1972, tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở tại: Thôn PĐ, xã ĐT, huyện PX, thành phố Hà Nội; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: LVK, con bà TTCg; Vợ là NTHg (đã ly hôn) và có 02 con; Danh chỉ bản số: 215 lập ngày 26/4/2018 tại Công an huyện Phú Xuyên; Tiền án: chưa có; Tiền sự: chưa có; Nhân thân đã có 01 lần bị Công an huyện Phú Xuyên xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc năm 2011; Bị tạm giữ từ ngày 24/4/2018 đến ngày 30/4/2018; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Trong vụ án này còn có các bị cáo: VVTh, VVQu, NVC, TĐT, TVCh, LTT, NVTr nhưng các bị cáo này không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

*Những người có quyền lợi, TVN vụ liên quan:

-Anh TVH, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn PĐ, xã ĐT, huyện PX, TP. Hà Nội; vắng mặt do Tòa án không triệu tập.

-Anh LVL, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn PĐ, xã ĐT, huyện PX, TP. Hà Nội; vắng mặt do Tòa án không triệu tập.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo!các!tài!liệu!có!trong!hồ!sơ!vụ!án!và!diễn!biến!tại!phiên!tòa,!nội! dung!vụ!án!được!tóm!tắt!như!sau:!

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/4/2018, TVN đang ở nhà (tại Thôn PĐ, xã ĐT, huyện PX, thành phố Hà Nội), thì có VVM, VVTh, TVCh, NVTr đến nhà TVN với mục đích rủ nhau đánh bạc ăn tiền. Theo đó, TVN, NVTr, VVM, VVTh rủ nhau chơi “Sâm” và ngồi tại buồng trong của nhà TVN. TVN nhất trí, đi lấy bài tú lơ khơi đã chuẩn bị săn đưa cho đám bạc. Cả nhóm quy ước cách chơi như sau: Lấy 52 quân bài trong bộ tú lơ khơ chia đều cho 04 người, ai đánh từ đầu đến cuối mà không bị bắt thì được gọi là “sâm”, khi có người về nhất mà những người còn lại ai không đánh được quân bài nào thì gọi là “cháy”; nếu có ai về nhất thì những người khác còn lại bao nhiêu quân bài chưa đánh được phải trả tiền cho người về nhất theo số quân bài còn lại, cứ 5.000 đồng/ 1 lá bài; nếu có người nào có “sâm” thì những người khác phải trả cho người đó 150.000 đồng; nếu ai “cháy” thì phải trả cho người về nhất 100.000 đồng; ai thắng mà có “cháy” hoặc có “sâm” thì phải bỏ ra chiếu cho TVN 10.000 đồng hoặc 20.000 đồng/ ván.

2

Đến khoảng 40 giờ 30 phút cùng ngày, thì có NVC, VVQu, TĐT, LTT cùng đến chơi. LTT vào đánh “sâm” thay cho NVTr; NVTr ra nhà ngoài ngồi đánh chắn với NVC, VVQu, TĐT. TVN lại lấy chiếu và bộ bài chắn cho nhóm này đánh bạc. Nhóm NVC, VVQu, TĐT, NVTr cùng thống nhất chơi chắn gom 20.000 đồng/ 1 ván; ai ù xuông được 30.000 đồng; có thêm “dịch” thì được thêm 10.000 đồng/ “dịch”; ai ù “tám đỏ” thì được thu mỗi người khác 100.000 đồng…; ai ù thì bỏ ra cho TVN 10.000 đồng/ ván. TVN cũng tham gia chơi đánh bạc tại chiếu bạc này.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày,LVL, TVH, VVT, TVTr cùng rủ nhau đến nhà TVN chơi “sâm”. TVN tiếp tục lấy chiếu và bộ bài tú lơ khơ cho nhóm này đánh bạc. Cả nhóm thống nhất cách chơi và số tiền chơi giống như nhóm của VVM, VVTh; ai thắng “sâm” thì cũng bỏ ra cho TVN 20.000 đồng/ ván.

Trong lúc chơi bạc thì có người gọi, nên LTT không chơi nữa mà đi về. TVN vào thay LTT chơi ở chiếu bạc này. Khi LVN đến thì TVN nhường cho LVN vào chơi bạc thay TVN.

Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, Công an huyện Phú Xuyên đã ập vào bắt quả tang các đối tượng đang đánh bạc, thu giữ các bộ bài và số tiền của các đối tượng cụ thể như sau:

-Thu của TVN 5.445.000 đồng.

-Thu tại chiếu bạc thứ nhất gồm:01 bộ bài và 1.090.000 đồng. Thu trong người các đối tượng chơi bạc: 7.200.000 đồng (trong đó: của NVC 2.250.000 đồng; của VVQu 3.450.000 đồng; của TĐT 1.300.000 đồng; của NVTr 200.000 đồng).

-Thu tại chiếu bạc thứ hai gồm: 01 bộ bài và 430.000 đồng. Thu trong người các đối tượng chơi bạc: 8.265.000 đồng (trong đó: của TVH 2.995.000 đồng; của VVT 2.570.000 đồng; của LVL 2.700.000 đồng; riêng TVTr không có tiền).

-Thu tại chiếu bạc thứ ba gồm: 01 bộ bài và 180.000 đồng. Thu trong người các đối tượng chơi bạc: 29.430.000 đồng (trong đó: của TVCh 2.960.000 đồng; của LVN 5.150.000 đồng; của VVTh 8.980.000 đồng; của VVM 12.340.000 đồng).

LTTkhông bắt trong đám bạc nhưngđến ngày 21/5/2018 thì ra đầu thú và giao nộp 350.000 đồng tiền đã dùng để đánh bạc.

Về số tiền thu giữ trên người các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc và số tiềnđánh bạc của từng chiếu bạc, Cơ quan điều tra đã làm rõ cụ thể như sau:

-Tại chiếu bạc thứ nhất: Toàn bộ số tiền 7.200.000 đồng của NVC, VVQu, TĐT, NVTr đều sử dụng vào mục đích đánh bạc. Cộng với số tiền thu trên chiếu bạc là 1.090.000 đồng thì tổng số tiền sử dụng để đánh bạc tại chiếu này là 8.290.000 đồng.

-Tại chiếu bạc thứ hai:TVH sử dụng 395.000 đồng/ 2.995.000 đồng vào mục đích đánh bạc; VVT sử dụng 2.570.000 đồng/ 2.570.000 đồng vào mục

3 đích đánh bạc; LVL sử dụng 1.200.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Cộng với số tiền thu trên chiếu bạc này là 430.000 đồng thì tổng số tiền sử dụng để đánh bạc tại chiếu này là 4.595.000 đồng.

-Tại chiếu bạc thứ ba:TVCh sử dụng 960.000 đồng/ 2.960.000 đồng vào mục đích đánh bạc; LVN sử dụng 5.150.000 đồng/ 5.150.000 đồng vào mục đích đánh bạc; VVTh sử dụng 8.980.000 đồng/ 8.980.000 đồng vào mục đích đánh bạc; VVM sử dụng 12.340.000 đồng/ 12.340.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Cộng với số tiền thu trên chiếu bạc này là 180.000 đồng thì tổng số tiền sử dụng để đánh bạc tại chiếu này là 27.610.000 đồng.

-TVN:số tiền TVN sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.445.000 đồng, trong đó có 180.000 đồng là tiền “hồ” mà các đối tượng đánh bạc trả cho TVN.

Tổng số tiền mà Cơ quan Công an thu giữ trên cả ba chiếu bạc là 52.390.000 đồng; tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 42.290.000 đồng, (gồm cả số tiền 350.000 đồng do LTT giao nộp).

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Xuyên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên xác định: Chiếu bạc thứ nhất và chiếu bạc thứ bavới 10 đối tượng tham gia đánh bạc là: TVN, VVM, LVN, VVTh, VVQu, NVC, TĐT, TVCh, LTT, NVTr,có số tiền sử dụng vào việc đánh bạc trên 5.000.000 đồng nên các đối tượng trên phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tại chiếu bạc thứ hai gồm các đối tượng: TVH, VVT, LVL, TVTr, số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 4.595.000 đồng; nhân thân các đối tượng trên đều chưa bị kết án hoặc bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc; do đó, chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Xuyên đã ra quyết định xử lý hành chính đối với TVH, VVT, LVL, TVTr theo quy định của pháp luật.

*Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HSST ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyênđã quyết định: Tuyên bố bị cáo TVNphạm các tội: Đánh bạc và Gá bạc; Tuyên bố các bị cáo: LVN, VVM, VVQu, VVTh, NVC, TĐT, TVCh, LTT, NVTr phạm tội Đánh bạc.

-Áp dụng:khoản 1 Điều322; khoản 1 Điều 321; Điều 58; Điều 38; các điểm i và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt TVN 12 tháng tù về tội Gá bạc và 06 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2018 đến ngày 24/5/2018.

-Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 58; Điều 38; các điểm i và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt VVM 09 tháng tù; xử phạt LVN 07 tháng tù; thời hạn tù đối với các bị cáo đều tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời hạn các bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 24/4/2018 đến ngày 30/4/2018.

-Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 58; các điểm i và s khoản 1 Điều 51; (thêm Điều 65 đối với các bị cáo VVTh, VVQu, TVCh, TĐT, NVC); (thêm Điều

4 36 đối với các bị cáo LTT, NVTr) Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt các bị cáo: VVTh, VVQu, TVCh, TĐT, NVC mỗi bị cáo 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử phạt các bị cáo LTT, NVTr 12 tháng cải tạo không giam giữ (bị cáo NVTr còn được trừ đi thời hạn đã bị tạm giữ trước đó). Bản án sơ thẩm còn có các quyết định khác về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo (các nội dung này không có kháng cáo và không bị kháng nghị).

Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 16/11/2018, bị cáo TVN kháng cáo xin được hưởng án treo; ngày 08/11/2018, bị cáo LVN có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo; ngày 13/11/2018 bị cáo VVM kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Các bị cáo khác là: VVTh, VVQu, TVCh, TĐT, NVC, LTT, NVTr không kháng cáo. Viện kiểm sát không kháng nghị Bản án sơ thẩm.

*Tại phiên tòa phúc thẩm: !

Các bị cáo TVN, VVM, LVN giữ nguyên kháng cáo. Các bị cáo xác nhận Bản án hình sự sơ thẩm kết án các bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan; các bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ mức hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòaphát biểu ý kiến:Về tố tụng:Kháng cáo của các bị cáo phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo và thời hạn kháng cáo; hình thức và nội dung đơn kháng cáo tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật nên kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, cần được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Về nội dung: Bản án sơ thẩm kết án: bị cáo TVNvề hai tội Đánh bạc và Gá bạc; đồng thời kết án các bị cáo khác về tội Đánh bạc là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng là đúng với tính chất, mức độ tội phạm và nhân thân của các bị cáo; tại cấp phúc thẩm không có căn cứ nào mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo (xử phạt bị cáo TVN 06 tháng tù về tội Đánh bạc và 12 tháng tù về tội Gá bạc, tổng hợp hình phạt của hai tội là 18 tháng tù; xử phạt bị cáo VVM 09 tháng tù; xử phạt bị cáo LVN 07 tháng tù; thời hạn tù đối với các bị cáo đều tính từ ngày bắt thi hành án được trừ đi thời hạn các bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam trước đó).Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xét.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên!cơ!sở!nội!dung!vụ!án,!căn!cứ!vào!các!tài!liệu!trong!hồ!sơ!vụ!án! đã!được!tranh!tụng!tại!phiên!toà,!Hội!đồng!xét!xử!nhận!định!như!sau:!

[1].Về!tố!tụng:!!

Các bị cáo là người có quyền kháng cáo; kháng cáo của các bị cáođược

5 làm trong thời hạn luật định, bảo đảm quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; hình thức và nội dung đơn kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2].Về!nội!dung:

[2.1] Về tội danh:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòaphúc thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm;phù hợp với lời khai của các bị cáo khác không có kháng cáo và lời khai những đối tượng tham gia đánh bạc khác trong vụ án; phù hợp với vật chứng đã thu giữvà các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 24/4/2018, tại nơi ở của TVN(địa chỉ: Thôn PĐ, xã ĐT, huyện PX, thành phố Hà Nội), Công an huyện Phú Xuyên bắt quả tang TVN, LVN, VVM, VVQu, VVTh, NVC, TĐT, TVCh,LTT, NVTr, TVH, LVL, VVT đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “sâm” và đánh “chắn” ăn tiền, cụ thể như sau:

-Tại chiếu bạc thứ nhất: Số tiền 7.200.000 đồng của NVC, VVQu, TĐT, NVTr sử dụng vào mục đích đánh bạc. Cộng với số tiền thu trên chiếu bạc là 1.090.000 đồng; tổng số tiền các đối tượng trên sử dụng để đánh bạc tại chiếu này là 8.290.000 đồng.

-Tại chiếu bạc thứ hai:TVH sử dụng 395.000 đồng vào mục đích đánh bạc; VVT sử dụng 2.570.000 đồng vào mục đích đánh bạc; LVL sử dụng 1.200.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Cộng với số tiền thu trên chiếu bạc này là 430.000 đồng; tổng số tiền các đối tượng trên sử dụng để đánh bạc tại chiếu này là 4.595.000 đồng.

-Tại chiếu bạc thứ ba:TVCh sử dụng 960.000 đồng vào mục đích đánh bạc; LVN sử dụng 5.150.000 đồng vào mục đích đánh bạc; VVTh sử dụng 8.980.000 đồng vào mục đích đánh bạc; VVM sử dụng 12.340.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Cộng với số tiền thu trên chiếu bạc này là 180.000 đồng, tổng số tiền các đối tượng trên sử dụng để đánh bạc tại chiếu này là 27.610.000 đồng.

- LTT: tham gia đánh bạc tại chiếu thứ ba nhưng về trước, số tiền LTT đánh bạc là 350.000 đồng.

- TVN: sử dụng số tiền 1.445.000 đồng tham gia đánh bạc tại chiếu thứ nhất, trong đó có 180.000 đồng là tiền “hồ” mà các đối tượng đánh bạc trả cho TVN.

Tổng số tiền mà Cơ quan Công an thu giữ trên cả ba chiếu bạc là 52.390.000 đồng; tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 42.290.000 đồng.

Hành vi của các bị cáoTVN, VVM, LVN, VVTh, VVQu, TVCh, TĐT,

6 NVC, LTT, NVTr là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm luật hình sự, các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý tham gia đánh bạc, được thua bằng tiền với số tiền đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự; do đó,Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáoTVN, VVM, LVN, cùng các bị cáo khác phạm tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo TVN biết Nhà nước nghiêm cấm việc đánh bạc nhưng vẫn đồng ý để 03 chiếu bạc với hơn 10 người đánh bạc tại nơi ở của mình nhằm thu tiền “hồ”; tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 42.290.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo TVN về tội Gá bạc theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng pháp luật.

Đối với TVH, VVT, LVL, TVTr, số tiền các đối tượng này sử dụng vào việc đánh bạc chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự; nhân thân chưa bị kết án hoặc bị xử lý hành chính về các hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính là thỏa đáng, Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.2] Xét kháng cáo của các bị cáo TVN, VVM, LVN:

- Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhận thức pháp luật của của các bị cáo còn hạn chế, để áp dụng các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Bộ luật hình sự năm 2015 giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy:

- Đối với bị cáo TVN: Trong vụ án này bị cáo TVN phạm hai tội Đánh bạc và Gá bạc. Bị cáo chuẩn bị các bộ bài tú lơ khơ và bài chắn, lấy chiếu để tạo điều kiện cho 03 chiếu bạc với 14 người đánh bạc tại nhà mình nhằm mục đích thu tiền “hồ”; số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc tại nhà bị cáo là 42.290.000 đồng. Bản thân bị cáo cũng trực tiếp tham gia đánh bạc tại chiều thứ nhất(có số tiền dùng để đánh bạc là 8.290.000 đồng). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội Đánh bạc và 12 tháng tù về tội Gá bạc là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm và nhân thân của bị cáo, tại cấp phúc thẩm không có tình tiết nào mới để làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, không có cơ sở cho bị cáo được hưởng án treo như kháng cáo của bị cáo.

- Đối với bị cáo VVM: Bị cáo tham gia đánh bạc tại chiếu bạc có số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 27.610.000 đồng. Bản thân bị cáo mang theo 12.340.000 đồng với mục đích đánh bạc, nhân thân bị cáo đã có 01 tiền án về cùng loại tội, mới được xóa án tích chưa lâu(Bản án số 23/HSST ngày 28/5/2015 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thủ thách là 16 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc). Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ tội phạm và nhân thân của bị cáo. Do đó, không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo như kháng cáo của bị cáo.

7

- Đối với bị cáo LVN: Bị cáo tham gia đánh bạc tại chiếu bạc có số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 27.610.000 đồng; bản thân bị cáo mang theo 5.150.000 đồng đểsử dụng vào việc đánh bạc; nhân thân bị cáo cũng đã có 01 lần bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc năm 2011, tuy đã hết thời hiệu nhưng cũng chứng tỏ bị cáo đã được cơ quan Nhà nước giáo dục nhưng không chịu sửa chữa; tại cấp phúc thẩm không có tình tiết nào mới để làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin được giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên các quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo TVN, VVM, LVN.

[3].!Về!các!nội!dung!khác:!

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xét.

Kháng cáo của các bị cáo TVN, VVM, LVN không được chấp nhận nên các bị cáo trên phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

1.- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo TVN, VVM, LVNđối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HSST ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyênvà giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm về phần xử lý hình sự đối với các bị cáo.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 322; điểm i (đối với tội Đánh bạc) và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo TVN;

+ Xử phạt bị cáo TVN 12 (mười hai) tháng tù về tội Gá bạc và 06 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung của hai tội là 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2018 đến ngày 24/5/2018.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 321; các điểm i và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với hai bị cáo VVM và LVN.

+ Xử phạt bị cáo:VVM 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 24/4/2018 đến ngày 30/4/2018.

8

+ Xử phạt bị cáo: LVN 07 (bảy) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 24/4/2018 đến ngày 30/4/2018.

2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về: tội danh, hình phạt đối với các bị cáo VVTh, VVQu, TVCh, TĐT, NVC, LTT, NVTr; xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bịkháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Về án phí:Các bị cáo TVN, VVM, LVN mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!

Cỡ chữ