vanban.org

Bản án 157/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Kiều D được ly hôn với anh Nguyễn Trường G. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Kiều T, sinh ngày 14/9/2009 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 18/6/2011 cho anh Nguyễn Trường G nuôi dưỡng, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hngđ"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

,
Bản án số:157/2018/HNGĐ-ST
Ngày 25–7–2018
“ V/v tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Kỳ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Nguyễn Văn Hành

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2018/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 02 năm 2018 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2018/QĐXXST – HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kiều D, sinh năm 1993 (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: ấp RDB, xã HM, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: ấp RDB, xã HM, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Nguyễn Kiều D trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh G sống chung với nhau vào năm 2009 nhưng đến năm 2012 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PH, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả nhau. Anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh G.

Về con chung: Chị và anh G có hai con chung là Nguyễn Kiều T, sinh ngày 14/9/2009 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 18/6/2011, hiện hai con đang sống với anh G.

Sau khi ly hôn, chị yêu cầu giao cháu T và cháu H cho anh G nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra. Tòa án nhận định:

[1] Tranh chấp giữa chị Nguyễn Kiều D và anh Nguyễn Trường G là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Trường G có địa chỉ cư trú tại ấp RDB, xã HM, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp của vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Kiều D và anh Nguyễn Trường G có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã PH, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình thì chị Nguyễn Kiều Diễm có quyền yêu cầu giải quyết việc ly hôn. Yêu cầu của chị D đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước tiến hành thủ tục hòa giải theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, anh Nguyễn Trường G đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và triệu tập anh G hợp lệ đến lần thứ hai đến Tòa án để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh G vẫn vắng mặt không lý do, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh G.

Hội đồng xét xử xét thấy, giữa chị D và anh G phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả nhau, hai người đã có thời gian ly thân kéo dài. Anh G không có ý kiến gì đối với việc chị D xin ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị D và anh G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị D được ly hôn với anh G là phù hợp.

Về nuôi dưỡng con chung: Chị D và anh G có hai con chung là Nguyễn Kiều T, sinh ngày 14/9/2009 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 18/6/2011, hiện đang sống với anh G. Sau khi ly hôn chị D yêu cầu giao cháu T và cháu H cho anh G nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu T và cháu H hiện đang sống với anh G từ khi anh chị sống ly thân với nhau và cuộc sống đã ổn định về mọi mặt. Hơn nữa, theo kết quả xác minh của Tòa án thì hiện nay hai cháu đang sinh sống cùng với anh G ở tỉnh Bình Dương nhưng không rõ địa chỉ cụ thể nên Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai của hai cháu về việc có nguyện vọng sống chung với cha hay mẹ sau khi Tòa án giải quyết cho ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T và cháu H cho anh G nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp theo quy định tại Điều 81 và 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị D xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Chị D xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Nếu sau này giữa chị D và anh G có phát sinh tranh chấp về việc nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành một vụ kiện khác.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị D phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 9, 51, 56, 81, 82, và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Kiều D được ly hôn với anh Nguyễn Trường G.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Kiều T, sinh ngày 14/9/2009 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 18/6/2011 cho anh Nguyễn Trường G nuôi dưỡng, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Kiều D phải chịu án phí là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004146 ngày 09/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.

Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Nguyễn Kiều D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Trường G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ