vanban.org

Bản án 1567/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trew Alexandre S:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trew Alexandre S được ly hôn với bà Trần Tú M. Về con chung: Giao hai con chung tên Leonardo Sebastien T1, sinh ngày 03/02/2021 và Trew Michelangelo S1, sinh ngày 09/10/2022 cho bà Trần Tú M trực tiếp nuôi dưỡng trực tiếp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn: Trew Alexandre S - M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trew Alexandre S:
  • Căn cứ chính? Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người; Luật Phá sản
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:1567/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/12/2025
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Huệ;

2. Bà Trần Thị Bích Thuận;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Hương - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 623/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4050/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trew Alexandre S, sinh năm 1992;

Địa chỉ tại Hoa Kỳ: 12025 Valley Ave E, Puyallup WA 98372;

Địa chỉ tại Việt Nam: 135/8 T, khu phố D, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Trần Tú M, sinh năm 1999;

Địa chỉ: A P, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, Nguyên đơn ông Trew Alexandre S trình bày:

Ông Trew Alexandre S và bà Trần Tú M quen biết nhau tại Mỹ. Sau thời gian tìm hiểu, ông Trew Alexandre S và bà M tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 08/11/2018 tại B, Hoa Kỳ. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống tại Hoa Kỳ một thời gian, sau đó trở về Việt Nam sinh sống và làm việc từ năm 2022. Thời gian đầu, vợ chồng thuê nhà và sinh sống tại thành phố Đà Nẵng. Đến tháng 02/2023 thì chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống cho đến nay.

Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do mâu thuẫn về kinh tế gia đình cũng như trong việc chăm sóc con chung.

Nay, ông Trew Alexandre S nhận thấy mẫu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được, tình cảm vợ chồng không còn vì vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, ông T Alexandre Sebastien yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Trần Tú M.

Về con chung: Có 02 con chung tên Leonardo Sebastien T1, sinh ngày 03/02/2021 và Trew Michelangelo S1, sinh ngày 09/10/2022. Ly hôn, ông Trew Alexandre S đồng ý giao hai con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trew Alexandre S đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con chung với mức 2.500.000 đồng/con/ tháng. Khoản cấp dưỡng này sẽ duy trì đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có khả năng lao động, tự lập về kinh tế.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Trew Alexandre S có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng các buổi Tòa án mời làm việc, hòa giải, công khai chứng cứ và các phiên tòa xét xử cấp sơ thẩm do tính chất công việc của ông bận rộn và nơi làm việc ở xa, không thu xếp thời gian để tham gia các buổi làm việc tại Tòa án.

Theo bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, bị đơn bà Trần Tú M trình bày:

Đối với yêu cầu ly hôn của ông Trew Alexandre S thì bà M đồng ý. Vì vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Hiện nay ông Trew Alexandre S cũng đã trở về Hoa Kỳ sinh sống, tình cảm vợ chồng không còn và không hàn gắn được.

Về con chung: Bà Trần Tú M yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông Trew Alexandre S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Pháp luật về tố tụng: Ông Trew Alexandre S có đơn khởi kiện về việc ly hôn với bị đơn bà Trần Tú M, bà M có địa chỉ cư trú tại phường G, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7

- Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án 2025); điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Trích lục ghi chú kết hôn giữa ông Trew Alexandre S và bà Trần Tú M đã ghi vào Sổ Đăng ký kết hôn tại UBND quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là UBND phường G, Thành phố Hồ Chí Minh), số 138/2023 ngày 30/6/2023 thì quan hệ hôn nhân giữa ông Trew Alexandre S và bà Trần Tú M là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.

Ông Trew Alexandre S và bà Trần Tú M đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trew Alexandre S và bà Trần Tú M là phù hợp theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Pháp luật về nội dung:

Xét yêu cầu ly hôn và yêu cầu về con chung của ông Trew Alexandre S, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Hạnh phúc gia đình được xây dựng và vun đắp dựa trên tình yêu thương, sự tôn trọng và chia sẻ của cả vợ và chồng. Tuy nhiên, qua trình bày của ông Trew Alexandre S và bà Trần Tú M đều thể hiện giữa vợ chồng không có sự thấu hiểu, chia sẻ cùng nhau. Ông Trew Alexandre S và bà M đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Ông Trew Alexandre S và bà M đều đồng ý ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn giữa ông Trew Alexandre S và bà M đã thật sự trầm trọng, khả năng hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trew Alexandre S là phù hợp quy định pháp luật.

Về con chung: Ông Trew Alexandre S đồng ý giao hai con chung là Leonardo Sebastien T1, sinh ngày 03/02/2021 và Trew Michelangelo S1, sinh ngày 09/10/2022 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Bà M yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc giao hai con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu ông T Alexandre Sebastien cấp dưỡng nuôi con nhưng ông T Alexandre Sebastien tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con chung với mức 2.500.000 đồng/con/ tháng. Khoản cấp dưỡng này sẽ duy trì đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có khả năng lao động, tự lập về kinh tế nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông Trew Alexandre S về việc cấp dưỡng nuôi hai con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông Trew Alexandre S phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 (sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án 2025), điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trew Alexandre S:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trew Alexandre S được ly hôn với bà Trần Tú M.

- Về con chung: Giao hai con chung tên Leonardo Sebastien T1, sinh ngày 03/02/2021 và Trew Michelangelo S1, sinh ngày 09/10/2022 cho bà Trần Tú M trực tiếp nuôi dưỡng trực tiếp.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trew Alexandre S về việc cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.500.000 đồng/con/ tháng (hai triệu năm triệu đồng/con/tháng) cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi hoặc có khả năng lao động, tự lập về kinh tế.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định pháp luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân sơ thẩm ông Trew Alexandre S phải chịu là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí do ông Trew Alexandre S đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022635 ngày 03/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Ông Trew Alexandre S và bà Trần Tú M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ