vanban.org

Bản án 156/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc T. Chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Á.

Chị T và anh Á không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết. Về con chung: chị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trường T1, sinh ngày 30/12/2020 và Nguyễn Ngọc Nhã U, sinh ngày 02/11/2025 và ghi nhận việc anh Á không cấp dưỡng nuôi con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc T - Nguyễn Văn Á"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc T. Chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Á.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHU VỰC 9 – VĨNH LONG

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 156/2026/HNGĐ-ST. Ngày: 17 – 6 – 2026. V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Cẩm Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Xuân Đông.

2. Bà Phạm Tường Vi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Tuyết Phi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phú Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 277/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2026 về việc tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 05 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 122/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 2003; địa chỉ: ấp C, xã V, tỉnh Vĩnh Long (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Á, sinh năm 1990; địa chỉ: số C ấp Q, xã Q, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, văn bản nêu ý kiến và xin vắng mặt, trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:

Chị và anh Á tự nguyện tiến đến hôn nhân, được gia đình tổ chức lễ cưới năm 2021 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã Q, tỉnh Vĩnh Long) được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 30/12/2021. Thời gian sống chung chị và anh Á có 02 con chung Nguyễn Trường T1, sinh ngày 30/12/2020 và Nguyễn Ngọc Nhã U, sinh ngày 02/11/2025, cháu T1 và cháu U hiện đang sống cùng chị. Trong cuộc sống vợ chồng chị và anh Á thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài, 02 vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng lớn, cãi nhau thường xuyên. Anh Á không chăm lo cuộc sống gia đình, đi làm có thu nhập nhưng không phụ đóng góp nuôi con, do mâu thuẫn kéo dài nên chị và anh Á đã ly thân từ tháng 11/2025 đến nay. Chị và anh Á hiện nay không thể hàn gắn tính cảm nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Á. Chị không yêu cầu anh Á cấp dưỡng cho chị khi ly hôn.

Về con chung: chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Trường T1, sinh ngày 30/12/2020 và Nguyễn Ngọc Nhã U, sinh ngày 02/11/2025 và không yêu cầu anh Á cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

Vì bận việc làm ăn nên chị xin vắng mặt trong các lần tòa án xét xử vụ án.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Á đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do nên không có lời trình bày.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Do nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án.

Về nội dung: xét lời trình bày của chị T cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Thấy rằng trong thời gian chung sống chị T và anh Á đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hàn gắn đoàn tụ được. Do đó có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị T và anh Á đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc T, chị T yêu cầu ly hôn với anh Á nên đây là tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Nguyễn Văn Á cư trú tại xã Q, tỉnh Vĩnh Long, do đó căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long.

Về tố tụng: chị T có yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Á đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Vì vậy căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng trong vụ án.

Về hôn nhân: Xét về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thấy rằng chị T và anh Á kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Bến Tre (nay là xã Q, tỉnh Vĩnh Long) được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 30/12/2021. Do đó hôn nhân của anh, chị đã tuân thủ đầy đủ các quy định về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét lời trình bày của chị T cho rằng mối quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã trải qua khoảng thời gian dài mất hạnh phúc, từ nguyên nhân chị và anh Á thường xuyên cải vã, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài, chị đã nhiều lần tha thứ nhưng anh Á không thay đổi, chị và anh H đã sống ly thân và không thể hàn gắn đoàn tụ.

Đối với anh Nguyễn Văn Á đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử cùng với kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Á cho thấy nội dung mà chị T đã trình bày về tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Á là có căn cứ chấp nhận. Từ đó cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị T, anh Á 8a2ngH8a2nđã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp.

Về con chung: con chung Nguyễn Trường T1, sinh ngày 30/12/2020 và Nguyễn Ngọc Nhã U, sinh ngày 02/11/2025, hiện đang sống cùng chị T. Xét thấy chị T có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dạy để con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Vì vậy giao con chung Nguyễn Trường T1 và Nguyễn Ngọc Nhã U cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Đồng thời ghi nhận việc anh Á không cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, anh Á không có lời trình bày về vấn đề này, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Chị T và anh Á được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản chung, nợ chung trong vụ án dân sự khác (nếu có yêu cầu).

Về án phí: chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.

Quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; các Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc T. Chị Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Á.

Chị T và anh Á không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ, chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

2. Về con chung: chị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trường T1, sinh ngày 30/12/2020 và Nguyễn Ngọc Nhã U, sinh ngày 02/11/2025 và ghi nhận việc anh Á không cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có căn cứ.

3. Về tài sản chung, nợ chung: chị T trình bày không có và không yêu cầu giải quyết; anh Á không có lời trình bày về vấn đề này nên không xem xét giải quyết. Chị T và anh Á được quyền khởi kiện yêu cầu về việc giải quyết về vấn đề tài sản chung, nợ chung trong vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0006413 ngày 08/04/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long xem như đã nộp đủ.

5. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./

Cỡ chữ