vanban.org

Bản án 156/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy b…

* Tuyên xử: Về hôn nhân: Bà Lý Thị Hồng N được ly hôn với ông Lâm B. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng Nhung - Lâm Bảo"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy b…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 13/4/2026.
V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Huy Tùng

2. Ông Trà Minh Châu

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên. Trong ngày 13/4/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 237/2026/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/3/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lý Thị Hồng N; Sinh ngày 14/12/1996; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Ấp C, xã T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lâm B; Sinh ngày 01/01/1998; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện do bà Lý Thị Hồng N lập ngày 27/10/2025 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa thì nguyên đơn bà Lý Thị Hồng N trình bày như sau: Bà và ông Lâm B sống chung với nhau từ năm 2017 đến năm 2020 bà và ông Lâm B mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 137 ngày 24/11/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, không còn hợp nhau và vợ chồng bà đã ly thân từ tháng 7 năm 2023 đến nay.

Trong thời gian sống chung và kết hôn bà và ông L bảo có một người con chung tên Lâm minh T, sinh ngày 10/6/2018. Hiện nay cháu T đang sống chung với bà.

Về tài sản chung, nợ chung không có.

Nay bà Lý Thị Hồng N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Bà Lý Thị Hồng N yêu cầu được ly hôn với ông Lâm B.

- Về con chung: Bà Lý Thị Hồng N yêu cầu được nuôi con chung là Lâm Minh T, sinh ngày 10/6/2018 cho đến khi thành niên và bà không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lý Thị Hồng N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Lâm B, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lâm B nhưng ông Lâm B không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Hồng N và không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải cũng như tham gia phiên tòa theo triệu tập.

* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ xác định: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 27/10/2025, bà Lý Thị Hồng N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Lâm B có nơi cư trú tại ấp Đ, xã T, thành phố Cần Thơ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lý Thị Hồng N có đơn xin vắng mặt, bị đơn Lâm Bảo vắng mặt lần thứ hai không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228, điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Lý Thị Hồng N:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Hồng N và ông Lâm B tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn được UBND xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/11/2020 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Lý Thị Hồng N và ông Lâm B là hợp pháp. Nhưng sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng ý kiến thường hay cãi nhau và mâu thuẫn kéo dài đến năm 2023 thì vợ chồng sống ly thân đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng cũng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng và bà Lý Thị Hồng N làm đơn khởi kiện để xin ly hôn tại Tòa án. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên vợ chồng bà Lý Thị Hồng N, ông Lâm B đoàn tụ với nhau, tuy nhiên phía ông Lâm B vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Như vậy, tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Lý Thị Hồng N, ông Lâm B đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc bà Lý Thị Hồng N xin ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong thời gian sống chung bà Lý Thị Hồng N và ông Lâm B có một người con chung tên Lâm Minh T, sinh ngày 10/6/2018, bà N yêu cầu được nuôi con chung đến thành niên. Xét thấy, từ ngày bà N và ông B ly thân cho đến nay, người trực tiếp lo cho cháu T là bà Lý Thị Hồng N và bà N vẫn đảm bảo cuộc sống của cháu và để tránh cuộc sống của cháu T bị xáo trộn khi cha mẹ ly hôn nên cần ổn định cuộc sống hiện tại cho cháu. Do đó việc bà Lý Thị Hồng N yêu cầu được nuôi con chung đến khi thành niên là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên của bà N và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Lâm Minh T, sinh ngày 10/6/2018 cho bà Lý Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông Lâm B cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Tài sản chung: Bà Lý Thị Hồng N và ông Lâm B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà Lý Thị Hồng N xác định không có và các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a, d khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lý Thị Hồng N chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng. Ông Lâm B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án cho nguyên đơn bà Lý Thị Hồng N và bị đơn ông Lâm B.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

* Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Bà Lý Thị Hồng N được ly hôn với ông Lâm B.

- Về con chung: Giao cho bà Lý Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Lý Thị Hồng N và ông Lâm B là cháu Lâm Minh T, sinh ngày 10/6/2018 đến khi thành niên (hiện nay cháu T đang sống chung với bà N).

- Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông Lâm B cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung, nên không đặt ra xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Bà Lý Thị Hồng N chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007508, ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà Lý Thị Hồng N đã thực hiện xong.

+ Ông Lâm B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án cho nguyên đơn bà Lý Thị Hồng N và bị đơn ông Lâm B.

Cỡ chữ