- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Văn T - Quách Thị Mỹ D - Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2026/HNGĐ-ST Ngày: 13 – 7 - 2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải.
Ông Lâm Vĩnh Hào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2026, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 155/2026/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2026, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 288/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lý Văn T, sinh ngày 14/01/2002 (Có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt);
Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 31/5/2021.
Địa chỉ: Số F Đường B, Khu V, phường P, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Bà Quách Thị Mỹ D, sinh ngày 16/10/2006 (Vắng mặt);
Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 26/9/2022.
Địa chỉ: Ấp T, xã M, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn khởi kiện ngày 31 tháng 3 năm 2026, nguyên đơn ông Lý Văn T trình bày:
Ông Lý Văn T và bà Quách Thị Mỹ D quen nhau có làm lễ cưới theo đúng phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 24/12/2024 đăng ký tại UBND phường D1, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (Nay là phường P, thành phố Cần Thơ). Ông Lý Văn T và bà Quách Thị Mỹ D thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên cuộc sống giữa ông Lý Văn T và bà Quách Thị Mỹ D không hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được. Từ tháng 10/2025 đến nay ông T và bà D không còn chung sống với nhau. Nay ông Lý Văn T yêu cầu được ly hôn với bà Quách Thị Mỹ D.
Trong thời kỳ hôn nhân ông T và bà Quách Thị Mỹ D có 01 (một) con chung tên Lý Quách Kiều N, sinh ngày 04/11/2023, hiện tại con chung đang sống với ông T. Khi ly hôn ông Lý Văn T yêu cầu Toà án giải quyết giao (con chung tên Lý Quách Kiều N, sinh ngày 04/11/2023 cho ông T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành, ông T không yêu cầu Bà D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn bà Quách Thị Mỹ D:
Bà D đã được cấp, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản tường trình ý kiến, không cung cấp chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của ông T.
- Tại phiên toà sơ thẩm:
Ông Lý Văn T có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt;
Bà Quách Thị Mỹ D vắng mặt không có lý do.
Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Riêng bị đơn bà Quách Thị Mỹ D vắng mặt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, vắng mặt các phiên toà là chưa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lý Văn T: Ông Lý Văn T được ly hôn với bà Quách Thị Mỹ D. Giao con chung tên Lý Quách Kiều N, sinh ngày 04/11/2023 cho ông Lý Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi; ông T không yêu cầu Bà D phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung ông T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết; Bà D không có ý kiến yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn ông Lý Văn T khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn bà Quách Thị Mỹ D. Bị đơn bà Quách Thị Mỹ D cư trú tại ấp T, xã M, thành phố Cần Thơ. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quan hệ pháp luật tranh chấp vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6
- Cần Thơ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông T có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, bị đơn bà D được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai, vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà D.
Về quan hệ hôn nhân: Ông T, Bà D tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D1, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Cần Thơ) và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 114 ngày 24/12/2024. Tại thời điểm kết hôn, ông T, bà D đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại các Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân giữa ông T, bà D được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu ly hôn của ông T, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo ông T trình bày, sau khi kết hôn ông T, bà D thời gian đầu chung sống hoà thuận, hạnh phúc, đến tháng 9 năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, tính tình không hợp nhau, không quan tâm tới nhau, nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, từ đó mỗi người có cuộc sống riêng, từ tháng 10 năm 2025 thì ông T, bà D không còn chung sống với nhau. Bà D không có văn bản tường trình ý kiến về mâu thuẫn gia đình, không tham gia hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được. Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân giữa ông T, bà D đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, ông T yêu cầu được ly hôn với bà D là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Theo giấy khai sinh số: 08/2025 của Ủy ban nhân dân phường D1, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Cần Thơ) thể hiện ông T và bà D có con chung tên Lý Quách Kiều N, sinh ngày 04/11/2023. Ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lý Quách Kiều N, sinh ngày 04/11/2023 đến khi đủ 18 tuổi. Bà D không có ý kiến phản đối yêu cầu này của ông T. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung hiện đang sống cùng ông T, cuộc sống, đã ổn định nên giao cháu Lý Quách Kiều N, sinh ngày 04/11/2023 cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung. Do đó, yêu cầu về con chung của ông T là có căn cứ chấp nhận.
Tại Khoản 1 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và Khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Theo quy định này, Bà D là người không trực tiếp nuôi con chung phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con chung được sống với ông T. Đồng thời, bà D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Tại Khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Theo quy định này, bà D là người không trực tiếp nuôi con chung phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, ông T không yêu cầu bà D phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết. Bà D không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
Như đã nhận định, phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Ông T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm a, b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
- Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lý Văn T được ly hôn với bà Quách Thị Mỹ D.
2. Về con chung: Giao con chung tên Lý Quách Kiều N, sinh ngày 04/11/2023 cho ông Lý Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Bà Quách Thị Mỹ D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông Lý Văn T không yêu cầu bà Quách Thị Mỹ D phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Lý Văn T trình bày không yêu cầu giải quyết. Bà Quách Thị Mỹ D không có ý kiến yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Ông Lý Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí, án phí số 0006618 ngày 10 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Ông Lý Văn T đã nộp xong án phí sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 6 – Cần Thơ; - THADS Thành phố Cần Thơ (Phòng THADS khu vực 6); - TAND Thành phố Cần Thơ (Phòng GĐKT, TT và THA); - UBND phường Phú Lợi, TP. Cần Thơ; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thành Hữu |