- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T và sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA PHÚC THẨM TANDTC TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2025/HS-PT Ngày: 20 - 8 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Quang Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Nam
Bà Nguyễn Ngọc Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền- Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Huy - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang (cơ sở 2), mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn T bị kết án về tội “Đánh bạc”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang (Nay là Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang).
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1980, tại tỉnh Hà Giang; CCCD số 002080001623, do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 25/4/2021; nơi cư trú: T2, thôn P, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang (Trước đây là: T2, thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961; có vợ là Nguyễn Thị Q và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02678/QĐ-XPHC ngày 28/02/2023 của Công an xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc (đã thi hành xong); bị tạm giữ từ ngày 03/02/2025 đến ngày 12/02/2025, hiện tại ngoại (Có mặt).
Trong vụ án còn có 09 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 đến 20 giờ ngày 03/02/2025, sau khi đi chúc tết, ăn cơm và uống rượu tại nhà Lê Văn H, sinh năm 1987, trú tại t2, thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang xong. Quá trình ngồi uống nước tại nhà H, 06 đối tượng gồm: Lê Văn H, sinh năm 1987; Hà Thị B, sinh năm 1988 (vợ của H; Phạm Trọng H1, sinh năm 1969, trú tại thôn Y, xã V, huyện Q, tỉnh Hà Giang; Trần Văn K, sinh năm 1955; Đinh Văn T1, sinh năm 1965 (trú cùng thôn với H); Hoàng Thị V, sinh năm 1982, trú tại Đ2, thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang cùng nhau đánh bạc được thua bằng tiền của người chơi, các bị cáo sử dụng 01 bộ bài (tú lơ khơ) gồm có 52 quân, trước khi chia bài mỗi người chơi phải đặt số tiền 20.000 đồng vào giữa chiếu bạc tức là (tiền gà) tiếp đó mỗi người chơi được chia 3 quân bài để tính điểm, thứ tự bài to nhất gọi là Sáp (gồm có 3 quân giống nhau, thứ tự từ to đến bé là sáp A, K, Q, J, 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2), sau đó đến liêng (gồm có 3 quân bài liền nhau, thứ tự từ to đến bé là QKA, JQK, 10JQ, 910J, 8910, 789, 678, 567, 456, 345, 234, 123), sau đó đến hình người (gồm có 3 quân bài ảnh), tiếp theo đến điểm (to nhất là 9 điểm, bé nhất là 0 điểm, nếu có số điểm bằng nhau thì so sánh chất theo thứ tự rô, cơ, tép, bích), sau khi xem bài ai bài to thì tiếp tục tố thêm tiền vào giữa mỗi lần 20.000 đồng (không quá 60.000 đồng), bài người nào bé thì bỏ bài và mất số tiền đã đặt trước đó.
Trong quá trình 06 người trên đang chơi thì lần lượt có Trần Văn T, sinh năm 1980 trú tại t2, thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang; Ma Thị H2, sinh năm 1987, trú tại thôn V, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang; Hoàng Thị N, sinh năm 1975 trú tại Đ2, thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang; Hoàng Văn V, sinh năm 1985, trú tại thôn Y, xã V, huyện Q, tỉnh Hà Giang đến nhà H chơi tết rồi cùng tham gia đánh bạc.
Khi tham gia đánh bạc bị cáo H sử dụng khoảng 1.000.000 đồng, H1 sử dụng 200.000 đồng; B sử dụng khoảng 900.000 đồng; H2 sử dụng khoảng 1.000.000 đồng; V sử dụng khoảng hơn 900.000 đồng; N sử dụng 400.000 đồng; V sử dụng 700.000 đồng; T, sử dụng 800.000 đồng; K sử dụng 100.000 đồng; T1 sử dụng hơn 2.800.000 đồng. Khi thực hiện hành vi đánh bạc, các bị cáo cùng đặt cược, thắng, thua qua lại nhiều ván.
Trong quá trình đang chơi, K nghỉ và đi về nhà trước còn lại 09 bị cáo tiếp tục chơi, đến hồi 23 giờ 30 phút ngày 03/02/2025, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Hà Giang phối hợp với Công an huyện Bắc Quang, bắt quả tang 09 đối tượng đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh liêng và thu giữ tại chiếu bạc số tiền 9.220.000 đồng, đây là số tiền các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc, cùng các đồ vật, tài liệu có liên quan đến hành vi đánh bạc.
Số tiền 3.740.000 đồng thu giữ tại giường trong phòng ngủ của gia đình bị cáo H - B được xác định đây là khoản tiền bán hàng của gia đình có được, không sử dụng để đánh bạc.
Ngày 11/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Giang ra Quyết định trưng cầu giám định số 195/QĐ-CSHS của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Giang. Trưng cầu giám định xác định số tiền đã thu giữ là tiền thật hay tiền giả. Tại bản kết luận giám định số 94/KL-KTHS ngày 16/02/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam đồng gửi giám định đều là tiền thật.
Tại Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn H, Ma Thị H2, Trần Văn T, Đinh Văn T1, Hà Thị B, Hoàng Thị V, Hoàng Thị N, Phạm Trọng H1, Hoàng Văn V, Trần Văn K phạm tội "Đánh bạc".
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án, được khấu trừ thời hạn bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác; quyết định về xử lý vật chứng, án phí, tuyên các quyền và nghĩa vụ khác.
Ngày 23/5/2025, bị cáo Trần Văn T nộp đơn kháng cáo đề nghị cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T không rút kháng cáo, bị cáo không kháng cáo hình phạt bổ sung. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đánh bạc của bị cáo nêu trong nội dung bản án sơ thẩm là đúng, bản án sơ thẩm kết án bị cáo phạm tội “Đánh bạc” là đúng. Bị cáo đề nghị cho hưởng án treo vì Án sơ thẩm không xem xét vai trò của bị cáo, bị cáo H có vai trò chính bị phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, bị cáo bị xử phạt 10 tháng tù giam là không phù hợp; bị cáo có tình tiết giảm nhẹ chưa được án sơ thẩm áp dụng là bố, ông nội là người có công với cách mạng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, các bị cáo chỉ đánh vui chơi ngày Tết, bị cáo nợ nần, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội: Tòa án cấp sơ thẩm kết án và xử phạt bị cáo Trần Văn T 10 tháng tù về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn T làm đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận để xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 20 giờ đến hồi 23 giờ 30 phút ngày 03/02/2025, tại t2, thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang, các bị cáo Lê Văn H, Ma Thị H2, Trần Văn T, Đinh Văn T1, Hà Thị B, Hoàng Thị V, Hoàng Thị N, Phạm Trọng H1, Hoàng Văn V, Trần Văn K đã có hành vi đánh bạc, bằng hình thức đánh liêng, được thua bằng tiền Việt Nam đồng, số tiền dùng để đánh bạc là 9.220.000 đồng.
Bị cáo Trần Văn T và các bị cáo khác trong vụ án có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi đánh bạc với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của các bị cáo trực tiếp xâm hại trật tự an toàn công cộng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Trần Văn T và các bị cáo khác phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn T:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện các tình tiết của vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét nhân thân, vai trò của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có bố vợ là ông Nguyễn Thanh G, được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ giải phóng, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy ở cấp phúc thẩm, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng, nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc, bị cáo không lấy đó là bài học mà lại phạm tội đánh bạc chứng tỏ bị cáo là kẻ máu mê cờ bạc cần xử lý nghiêm. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo về tội “Đánh bạc” là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Tuy nhiên, ở cấp phúc thẩm bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có vai trò thấp trong vụ án, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy mức hình phạt 10 tháng tù đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T và sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Văn T 07 (Bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án, được khấu trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/02/2025 đến ngày 12/02/2025.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - CQĐT Công an tỉnh Tuyên Quang; - Cục THADS tỉnh Tuyên Quang; - Bị cáo; - Lưu: HS,, HCTP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Quang Dũng |